Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Annàsi Koṇḍañño, sau một thời gian khá dài, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn, tay xoa bóp chân Thế Tôn và nói lên tên của mình:
—Bạch Thế Tôn, con là Koṇḍañño. Bạch Thiện Thệ, con là Koṇḍañño.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Tôn giả Annàsi Koṇḍañño này, sau một thời gian khá dài, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn, tay xoa bóp chân Thế Tôn và nói lên tên của mình: ‘Bạch Thế Tôn, con là Koṇḍañño. Bạch Thiện Thệ, con là Koṇḍañño’. Vậy ta hãy ở trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Annàsi Koṇḍañño”.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y về một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
Vi-n 5 Thế Tôn đáp:
—Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Koṇḍañño:
Sau đức Phật hiện tại,
Trưởng lão được chánh giác,
Chính là Koṇḍañño,
Nhiệt tâm và tinh cần,
Chứng được an lạc trú,
Sống viễn ly liên tục,
Thực hành lời Sư dạy.
Ðệ tử chứng được gì,
Tất cả Ngài chứng được,
Nhờ tu học tinh tấn,
Ðại uy lực Ba minh,
Thiện xảo tâm tư người.
Phật tử Koṇḍañño,
Ðảnh lễ chân Ðạo Sư.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho āyasmā aññāsikoṇḍañño sucirasseva yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati, pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti:
“koṇḍaññohaṁ, bhagavā, koṇḍaññohaṁ, sugatā”ti.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā aññāsikoṇḍañño sucirasseva yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati, pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti:
‘koṇḍaññohaṁ, bhagavā, koṇḍaññohaṁ, sugatā’ti.
Yannūnāhaṁ āyasmantaṁ aññāsikoṇḍaññaṁ bhagavato sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthaveyyan”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“paṭibhāti maṁ, bhagavā, paṭibhāti maṁ, sugatā”ti.
“Paṭibhātu taṁ, vaṅgīsā”ti bhagavā avoca.
Atha kho āyasmā vaṅgīso āyasmantaṁ aññāsikoṇḍaññaṁ bhagavato sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
“Buddhānubuddho so thero,
koṇḍañño tibbanikkamo;
Lābhī sukhavihārānaṁ,
vivekānaṁ abhiṇhaso.
Yaṁ sāvakena pattabbaṁ,
satthusāsanakārinā;
Sabbassa taṁ anuppattaṁ,
appamattassa sikkhato.
Mahānubhāvo tevijjo,
cetopariyāyakovido;
Koṇḍañño buddhadāyādo,
pāde vandati satthuno”ti.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Then Venerable Koṇḍañña Who Understood approached the Buddha after a very long absence. He bowed with his head at the Buddha’s feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name:
“I am Koṇḍañña, Blessed One! I am Koṇḍañña, Holy One!”
Then Venerable Vaṅgīsa thought,
“This Venerable Koṇḍañña Who Understood has approached the Buddha after a very long absence. He bowed with his head at the Buddha’s feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name:
‘I am Koṇḍañña, Blessed One! I am Koṇḍañña, Holy One!’
Why don’t I extoll him in the Buddha’s presence with fitting verses?”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said,
“I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled Koṇḍañña in the Buddha’s presence with fitting verses:
“The senior monk awakened after the Buddha,
Koṇḍañña, is keenly energetic.
He regularly gains
the blissful meditations of seclusion.
Whatever can be attained by a disciple
who does the Teacher’s bidding,
he has attained it all,
through diligently training himself.
With great power and the three knowledges,
expert in encompassing the minds of others,
Koṇḍañña, the heir to the Buddha,
bows at the Teacher’s feet.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Annàsi Koṇḍañño, sau một thời gian khá dài, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn, tay xoa bóp chân Thế Tôn và nói lên tên của mình:
—Bạch Thế Tôn, con là Koṇḍañño. Bạch Thiện Thệ, con là Koṇḍañño.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Tôn giả Annàsi Koṇḍañño này, sau một thời gian khá dài, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn, tay xoa bóp chân Thế Tôn và nói lên tên của mình: ‘Bạch Thế Tôn, con là Koṇḍañño. Bạch Thiện Thệ, con là Koṇḍañño’. Vậy ta hãy ở trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Annàsi Koṇḍañño”.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y về một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
Vi-n 5 Thế Tôn đáp:
—Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Koṇḍañño:
Sau đức Phật hiện tại,
Trưởng lão được chánh giác,
Chính là Koṇḍañño,
Nhiệt tâm và tinh cần,
Chứng được an lạc trú,
Sống viễn ly liên tục,
Thực hành lời Sư dạy.
Ðệ tử chứng được gì,
Tất cả Ngài chứng được,
Nhờ tu học tinh tấn,
Ðại uy lực Ba minh,
Thiện xảo tâm tư người.
Phật tử Koṇḍañño,
Ðảnh lễ chân Ðạo Sư.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho āyasmā aññāsikoṇḍañño sucirasseva yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati, pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti:
“koṇḍaññohaṁ, bhagavā, koṇḍaññohaṁ, sugatā”ti.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā aññāsikoṇḍañño sucirasseva yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati, pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti:
‘koṇḍaññohaṁ, bhagavā, koṇḍaññohaṁ, sugatā’ti.
Yannūnāhaṁ āyasmantaṁ aññāsikoṇḍaññaṁ bhagavato sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthaveyyan”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“paṭibhāti maṁ, bhagavā, paṭibhāti maṁ, sugatā”ti.
“Paṭibhātu taṁ, vaṅgīsā”ti bhagavā avoca.
Atha kho āyasmā vaṅgīso āyasmantaṁ aññāsikoṇḍaññaṁ bhagavato sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
“Buddhānubuddho so thero,
koṇḍañño tibbanikkamo;
Lābhī sukhavihārānaṁ,
vivekānaṁ abhiṇhaso.
Yaṁ sāvakena pattabbaṁ,
satthusāsanakārinā;
Sabbassa taṁ anuppattaṁ,
appamattassa sikkhato.
Mahānubhāvo tevijjo,
cetopariyāyakovido;
Koṇḍañño buddhadāyādo,
pāde vandati satthuno”ti.