Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, có người thân bị thương tích, thân bị lở loét, đi vào một khu rừng đầy gai góc. Cỏ và gai đâm thủng chân người ấy, và cào rách thân lở loét của người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy do nhân duyên ấy còn cảm thọ khổ ưu nhiều hơn nữa. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo đi vào làng hay đi vào rừng gặp người chỉ trích Tỷ-kheo ấy, và người chỉ trích nói rằng: “Tôn giả làm như vậy, sở hành như vậy là gai bất tịnh trong làng”. Biết rằng vị ấy là gai, sau khi biết như vậy, cả hai (người Tỷ-kheo và người chỉ trích) cần phải hiểu là không hộ trì và có hộ trì.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn … khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý nhận biết pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi ấy, các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn …
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu, người ấy cột một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con chim, người ấy cột với sợi dây vững chắc … Sau khi bắt được con chó, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con giả can, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với những sợi dây vững chắc, người ấy cột một cái gút ở chính giữa và thả chúng đi. Này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”.Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: ” Ta sẽ đi vào làng”. Con giả can lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, khi ấy, con sinh vật nào mạnh hơn các sinh vật còn lại, được chúng đi theo, chúng tuân theo, chúng phục tùng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo thân niệm không tu tập, không làm cho sung mãn, con mắt sẽ lôi cuốn nó đối với các sắc khả ái và ghét bỏ đối với các sắc không khả ái … Ý sẽ lôi cuốn nó đối với các pháp khả ái và ghét bỏ đối với các pháp không khả ái.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hộ trì?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn … khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý biết các pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu con sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu … Sau khi bắt được con chim … Sau khi bắt được con chó … Sau khi bắt được con giả can … Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với sợi dây vững chắc, người ấy cột vào một cái cột hay cái trụ vững chắc. Rồi, này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo, tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”. Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào làng”. Con giả can lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, chúng sẽ đứng gần bên, ngồi gần bên, nằm gần bên cái cột ấy hay cái trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo thân niệm được tu tập, được làm sung mãn, con mắt không lôi kéo vị ấy theo các sắc khả ái, đối với các sắc không khả ái, không ghét bỏ … lưỡi không lôi kéo vị ấy theo các vị khả ái, đối với vị không khả ái, không có ghét bỏ … ý không lôi kéo vị ấy theo các pháp khả ái, đối với pháp không khả ái, không có ghét bỏ.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hộ trì.
Vi-n 8 Cái cột hay cái trụ vững chắc, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân niệm. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ tu tập thân niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành cơ sở, an trú, tích tập, khéo nỗ lực”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso arugatto pakkagatto saravanaṁ paviseyya.
Tassa kusakaṇṭakā ceva pāde vijjheyyuṁ, sarapattāni ca gattāni vilekheyyuṁ.
Evañhi so, bhikkhave, puriso bhiyyoso mattāya tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyetha.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu gāmagato vā araññagato vā labhati vattāraṁ:
‘ayañca so āyasmā evaṅkārī evaṁsamācāro asucigāmakaṇṭako’ti.
Taṁ kaṇṭakoti iti viditvā saṁvaro ca asaṁvaro ca veditabbo.
Kathañca, bhikkhave, asaṁvaro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso chappāṇake gahetvā nānāvisaye nānāgocare daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Ahiṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Susumāraṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Pakkhiṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Kukkuraṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Siṅgālaṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Makkaṭaṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Daḷhāya rajjuyā bandhitvā majjhe gaṇṭhiṁ karitvā ossajjeyya.
Atha kho, te, bhikkhave, chappāṇakā nānāvisayā nānāgocarā sakaṁ sakaṁ gocaravisayaṁ āviñcheyyuṁ—
ahi āviñcheyya ‘vammikaṁ pavekkhāmī’ti, susumāro āviñcheyya ‘udakaṁ pavekkhāmī’ti, pakkhī āviñcheyya ‘ākāsaṁ ḍessāmī’ti, kukkuro āviñcheyya ‘gāmaṁ pavekkhāmī’ti, siṅgālo āviñcheyya ‘sīvathikaṁ pavekkhāmī’ti, makkaṭo āviñcheyya ‘vanaṁ pavekkhāmī’ti.
Yadā kho te, bhikkhave, chappāṇakā jhattā assu kilantā, atha kho yo nesaṁ pāṇakānaṁ balavataro assa tassa te anuvatteyyuṁ, anuvidhāyeyyuṁ vasaṁ gaccheyyuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, taṁ cakkhu āviñchati manāpiyesu rūpesu, amanāpiyā rūpā paṭikūlā honti …pe…
mano āviñchati manāpiyesu dhammesu, amanāpiyā dhammā paṭikūlā honti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asaṁvaro hoti.
Kathañca, bhikkhave, saṁvaro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso chappāṇake gahetvā nānāvisaye nānāgocare daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Ahiṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Susumāraṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Pakkhiṁ gahetvā …pe…
kukkuraṁ gahetvā …
siṅgālaṁ gahetvā …
makkaṭaṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Daḷhāya rajjuyā bandhitvā daḷhe khīle vā thambhe vā upanibandheyya.
Atha kho te, bhikkhave, chappāṇakā nānāvisayā nānāgocarā sakaṁ sakaṁ gocaravisayaṁ āviñcheyyuṁ—
ahi āviñcheyya ‘vammikaṁ pavekkhāmī’ti, susumāro āviñcheyya ‘udakaṁ pavekkhāmī’ti, pakkhī āviñcheyya ‘ākāsaṁ ḍessāmī’ti, kukkuro āviñcheyya ‘gāmaṁ pavekkhāmī’ti, siṅgālo āviñcheyya ‘sīvathikaṁ pavekkhāmī’ti, makkaṭo āviñcheyya ‘vanaṁ pavekkhāmī’ti.
Yadā kho te, bhikkhave, chappāṇakā jhattā assu kilantā, atha tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upatiṭṭheyyuṁ, upanisīdeyyuṁ, upanipajjeyyuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, taṁ cakkhu nāviñchati manāpiyesu rūpesu, amanāpiyā rūpā nappaṭikūlā honti …pe… jivhā nāviñchati manāpiyesu rasesu …pe…
mano nāviñchati manāpiyesu dhammesu, amanāpiyā dhammā nappaṭikūlā honti.
Evaṁ kho, bhikkhave, saṁvaro hoti.
‘Daḷhe khīle vā thambhe vā’ti kho, bhikkhave, kāyagatāya satiyā etaṁ adhivacanaṁ.
Tasmātiha vo, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘kāyagatā no sati bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti.
Evañhi kho, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dasamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, suppose a man with limbs wounded and festering would enter a wood of thorny reeds, and the Kusa thorns would prick his feet and the reed blades would slash his limbs. Thus that man would thereby experience even more pain and displeasure. So too, bhikkhus, some bhikkhu here, gone to the village or the forest, meets someone who reproaches him thus: ‘This venerable one, acting in such a way, behaving in such a way, is a foul village thorn.’ Having understood him thus as a ‘thorn,’ one should understand restraint and nonrestraint.
SC 2“And how, bhikkhus is there nonrestraint? Here, having seen a form with the eye, a bhikkhu is intent upon a pleasing form and repelled by a displeasing form. He dwells without having set up mindfulness of the body, with a limited mind, and he does not understand as it really is that liberation of mind, liberation by wisdom, wherein those evil unwholesome states cease without remainder. Having heard a sound with the ear … Having cognized a mental phenomenon with the mind, he is intent upon a pleasing mental phenomenon and repelled by a displeasing mental phenomenon. He dwells without having set up mindfulness of the body, with a limited mind, and he does not understand as it really is that liberation of mind, liberation by wisdom, wherein those evil unwholesome states cease without remainder.
SC 3“Suppose, bhikkhus, a man would catch six animals—with different domains and different feeding grounds—and tie them by a strong rope. He would catch a snake, a crocodile, a bird, a dog, sn.iv.199 a jackal, and a monkey, and tie each by a strong rope. Having done so, he would tie the ropes together with a knot in the middle and release them. Then those six animals with different domains and different feeding grounds would each pull in the direction of its own feeding ground and domain. The snake would pull one way, thinking, ‘Let me enter an anthill.’ The crocodile would pull another way, thinking, ‘Let me enter the water.’ The bird would pull another way, thinking, ‘Let me fly up into the sky.’ The dog would pull another way, thinking, ‘Let me enter a village.’ The jackal would pull another way, thinking, ‘Let me enter a charnel ground.’ The monkey would pull another way, thinking, ‘Let me enter a forest.’
SC 4“Now when these six animals become worn out and fatigued, they would be dominated by the one among them that was strongest; they would submit to it and come under its control. So too, bhikkhus, when a bhikkhu has not developed and cultivated mindfulness directed to the body, the eye pulls in the direction of agreeable forms and disagreeable forms are repulsive; the ear pulls in the direction of agreeable sounds and disagreeable sounds are repulsive; the nose pulls in the direction of agreeable odours and disagreeable odours are repulsive; the tongue pulls in the direction of agreeable tastes and disagreeable tastes are repulsive; the body pulls in the direction of agreeable tactile objects and disagreeable tactile objects are repulsive; the mind pulls in the direction of agreeable mental phenomena and disagreeable mental phenomena are repulsive.
“It is in such a way that there is nonrestraint.
SC 5“And how, bhikkhus, is there restraint? Here, having seen a form with the eye, a bhikkhu is not intent upon a pleasing form and not repelled by a displeasing form. He dwells having set up mindfulness of the body, with a measureless mind, and he understands as it really is that liberation of mind, liberation by wisdom, wherein those evil unwholesome states cease without remainder. Having heard a sound with the ear … Having cognized a mental phenomenon with the mind, he is not intent upon a pleasing mental phenomenon and not repelled by a displeasing mental phenomenon. sn.iv.200 He dwells having set up mindfulness of the body, with a measureless mind, and he understands as it really is that liberation of mind, liberation by wisdom, wherein those evil unwholesome states cease without remainder. It is in such a way that there is restraint.
SC 6“Suppose, bhikkhus, a man would catch six animals—with different domains and different feeding grounds—and tie them by a strong rope. He would catch a snake, a crocodile, a bird, a dog, a jackal, and a monkey, and tie each by a strong rope. Having done so, he would bind them to a strong post or pillar. Then those six animals with different domains and different feeding grounds would each pull in the direction of its own feeding ground and domain. The snake would pull one way, thinking, ‘Let me enter an anthill’ … as above … The monkey would pull another way, thinking, ‘Let me enter a forest.’
SC 7“Now when these six animals become worn out and fatigued, they would stand close to that post or pillar, they would sit down there, they would lie down there. So too, bhikkhus, when a bhikkhu has developed and cultivated mindfulness directed to the body, the eye does not pull in the direction of agreeable forms nor are disagreeable forms repulsive; the ear does not pull in the direction of agreeable sounds nor are disagreeable sounds repulsive; the nose does not pull in the direction of agreeable odours nor are disagreeable odours repulsive; the tongue does not pull in the direction of agreeable tastes nor are disagreeable tastes repulsive; the body does not pull in the direction of agreeable tactile objects nor are disagreeable tactile objects repulsive; the mind does not pull in the direction of agreeable mental phenomena nor are disagreeable mental phenomena repulsive.
“It is in such a way that there is restraint.
SC 8“‘A strong post or pillar’: this, bhikkhus, is a designation for mindfulness directed to the body. Therefore, bhikkhus, you should train yourselves thus: ‘We will develop and cultivate mindfulness directed to the body, make it our vehicle, make it our basis, stabilize it, exercise ourselves in it, and fully perfect it.’ Thus should you train yourselves.” sn.iv.201
Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, có người thân bị thương tích, thân bị lở loét, đi vào một khu rừng đầy gai góc. Cỏ và gai đâm thủng chân người ấy, và cào rách thân lở loét của người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy do nhân duyên ấy còn cảm thọ khổ ưu nhiều hơn nữa. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo đi vào làng hay đi vào rừng gặp người chỉ trích Tỷ-kheo ấy, và người chỉ trích nói rằng: “Tôn giả làm như vậy, sở hành như vậy là gai bất tịnh trong làng”. Biết rằng vị ấy là gai, sau khi biết như vậy, cả hai (người Tỷ-kheo và người chỉ trích) cần phải hiểu là không hộ trì và có hộ trì.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn … khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý nhận biết pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi ấy, các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn …
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu, người ấy cột một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con chim, người ấy cột với sợi dây vững chắc … Sau khi bắt được con chó, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con giả can, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với những sợi dây vững chắc, người ấy cột một cái gút ở chính giữa và thả chúng đi. Này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”.Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: ” Ta sẽ đi vào làng”. Con giả can lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, khi ấy, con sinh vật nào mạnh hơn các sinh vật còn lại, được chúng đi theo, chúng tuân theo, chúng phục tùng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo thân niệm không tu tập, không làm cho sung mãn, con mắt sẽ lôi cuốn nó đối với các sắc khả ái và ghét bỏ đối với các sắc không khả ái … Ý sẽ lôi cuốn nó đối với các pháp khả ái và ghét bỏ đối với các pháp không khả ái.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hộ trì?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn … khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý biết các pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu con sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu … Sau khi bắt được con chim … Sau khi bắt được con chó … Sau khi bắt được con giả can … Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với sợi dây vững chắc, người ấy cột vào một cái cột hay cái trụ vững chắc. Rồi, này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo, tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”. Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào làng”. Con giả can lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, chúng sẽ đứng gần bên, ngồi gần bên, nằm gần bên cái cột ấy hay cái trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo thân niệm được tu tập, được làm sung mãn, con mắt không lôi kéo vị ấy theo các sắc khả ái, đối với các sắc không khả ái, không ghét bỏ … lưỡi không lôi kéo vị ấy theo các vị khả ái, đối với vị không khả ái, không có ghét bỏ … ý không lôi kéo vị ấy theo các pháp khả ái, đối với pháp không khả ái, không có ghét bỏ.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hộ trì.
Vi-n 8 Cái cột hay cái trụ vững chắc, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân niệm. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ tu tập thân niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành cơ sở, an trú, tích tập, khéo nỗ lực”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso arugatto pakkagatto saravanaṁ paviseyya.
Tassa kusakaṇṭakā ceva pāde vijjheyyuṁ, sarapattāni ca gattāni vilekheyyuṁ.
Evañhi so, bhikkhave, puriso bhiyyoso mattāya tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyetha.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu gāmagato vā araññagato vā labhati vattāraṁ:
‘ayañca so āyasmā evaṅkārī evaṁsamācāro asucigāmakaṇṭako’ti.
Taṁ kaṇṭakoti iti viditvā saṁvaro ca asaṁvaro ca veditabbo.
Kathañca, bhikkhave, asaṁvaro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso chappāṇake gahetvā nānāvisaye nānāgocare daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Ahiṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Susumāraṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Pakkhiṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Kukkuraṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Siṅgālaṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Makkaṭaṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Daḷhāya rajjuyā bandhitvā majjhe gaṇṭhiṁ karitvā ossajjeyya.
Atha kho, te, bhikkhave, chappāṇakā nānāvisayā nānāgocarā sakaṁ sakaṁ gocaravisayaṁ āviñcheyyuṁ—
ahi āviñcheyya ‘vammikaṁ pavekkhāmī’ti, susumāro āviñcheyya ‘udakaṁ pavekkhāmī’ti, pakkhī āviñcheyya ‘ākāsaṁ ḍessāmī’ti, kukkuro āviñcheyya ‘gāmaṁ pavekkhāmī’ti, siṅgālo āviñcheyya ‘sīvathikaṁ pavekkhāmī’ti, makkaṭo āviñcheyya ‘vanaṁ pavekkhāmī’ti.
Yadā kho te, bhikkhave, chappāṇakā jhattā assu kilantā, atha kho yo nesaṁ pāṇakānaṁ balavataro assa tassa te anuvatteyyuṁ, anuvidhāyeyyuṁ vasaṁ gaccheyyuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, taṁ cakkhu āviñchati manāpiyesu rūpesu, amanāpiyā rūpā paṭikūlā honti …pe…
mano āviñchati manāpiyesu dhammesu, amanāpiyā dhammā paṭikūlā honti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asaṁvaro hoti.
Kathañca, bhikkhave, saṁvaro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso chappāṇake gahetvā nānāvisaye nānāgocare daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Ahiṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Susumāraṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Pakkhiṁ gahetvā …pe…
kukkuraṁ gahetvā …
siṅgālaṁ gahetvā …
makkaṭaṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya.
Daḷhāya rajjuyā bandhitvā daḷhe khīle vā thambhe vā upanibandheyya.
Atha kho te, bhikkhave, chappāṇakā nānāvisayā nānāgocarā sakaṁ sakaṁ gocaravisayaṁ āviñcheyyuṁ—
ahi āviñcheyya ‘vammikaṁ pavekkhāmī’ti, susumāro āviñcheyya ‘udakaṁ pavekkhāmī’ti, pakkhī āviñcheyya ‘ākāsaṁ ḍessāmī’ti, kukkuro āviñcheyya ‘gāmaṁ pavekkhāmī’ti, siṅgālo āviñcheyya ‘sīvathikaṁ pavekkhāmī’ti, makkaṭo āviñcheyya ‘vanaṁ pavekkhāmī’ti.
Yadā kho te, bhikkhave, chappāṇakā jhattā assu kilantā, atha tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā upatiṭṭheyyuṁ, upanisīdeyyuṁ, upanipajjeyyuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, taṁ cakkhu nāviñchati manāpiyesu rūpesu, amanāpiyā rūpā nappaṭikūlā honti …pe… jivhā nāviñchati manāpiyesu rasesu …pe…
mano nāviñchati manāpiyesu dhammesu, amanāpiyā dhammā nappaṭikūlā honti.
Evaṁ kho, bhikkhave, saṁvaro hoti.
‘Daḷhe khīle vā thambhe vā’ti kho, bhikkhave, kāyagatāya satiyā etaṁ adhivacanaṁ.
Tasmātiha vo, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘kāyagatā no sati bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti.
Evañhi kho, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dasamaṁ.