Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Ðại Lâm, chỗ ngôi nhà có nóc nhọn.
Vi-n 2 Rồi đại thần người Licchavi tên là Nandaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Nandaka, vị đại thần người Licchavi đang ngồi một bên:
—Này Nandaka, thành tựu bốn pháp, một vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu … chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?
Vi-n 3 Ở đây, này Nandaka, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh … đưa đến Thiền định. Thành tựu bốn pháp này, này Nandaka, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 4 Thành tựu bốn pháp này, này Nadaka, vị Thánh đệ tử liên hệ đến tuổi thọ chư Thiên và loài Người, liên hệ đến dung sắc, liên hệ đến an lạc, liên hệ đến thanh danh, liên hệ đến lực tăng thượng (adhipateyya) chư Thiên và loài Người.
Vi-n 5 Ðiểm này, này Nandaka, Ta biết chứ không phải nhờ nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào rồi Ta tuyên bố. Chính do tự Ta biết, tự Ta thấy, tự Ta ý thức rồi Ta tuyên bố.
Vi-n 6 Khi được nghe nói vậy, một người thưa với Nandaka, vị đại thần người Licchavi:
—Thưa Ðại quan, nay đã đến giờ tắm.
—Thôi, nay đã vừa rồi, này Bạn, đó chỉ là sự tắm rửa bề ngoài. Tắm rửa bên trong này là vừa đủ cho ta, tức là lòng tịnh tín đối với Thế Tôn.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho nandako licchavimahāmatto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho nandakaṁ licchavimahāmattaṁ bhagavā etadavoca:
“Catūhi kho, nandaka, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Katamehi catūhi?
Idha, nandaka, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Imehi kho, nandaka, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Imehi ca pana, nandaka, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako āyunā saṁyutto hoti dibbenapi mānusenapi;
vaṇṇena saṁyutto hoti dibbenapi mānusenapi;
sukhena saṁyutto hoti dibbenapi mānusenapi;
yasena saṁyutto hoti dibbenapi mānusenapi;
ādhipateyyena saṁyutto hoti dibbenapi mānusenapi.
Taṁ kho panāhaṁ, nandaka, nāññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā vadāmi. Api ca yadeva mayā sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ, tadevāhaṁ vadāmī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro puriso nandakaṁ licchavimahāmattaṁ etadavoca:
“nahānakālo, bhante”ti.
“Alaṁ dāni, bhaṇe, etena bāhirena nahānena.
Alamidaṁ ajjhattaṁ nahānaṁ bhavissati, yadidaṁ—
bhagavati pasādo”ti.
Dasamaṁ.
Saraṇānivaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Mahānāmena dve vuttā,
godhā ca saraṇā duve;
Duve anāthapiṇḍikā,
duve verabhayena ca;
Licchavī dasamo vutto,
vaggo tena pavuccatīti.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Then Nandaka the Licchavi chief minister went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Nandaka, a noble disciple who has four things is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.
What four?
It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.
A noble disciple who has these four things is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.
A noble disciple who has these four things is guaranteed long life, both human and heavenly …
beauty …
happiness …
fame …
and sovereignty, both human and heavenly.
Now, I don’t say this because I’ve heard it from some other ascetic or brahmin. I only say it because I’ve known, seen, and realized it for myself.”
When he had spoken, a certain person said to Nandaka:
“Sir, it is time to bathe.”
“Enough now, I must say, with that exterior bath.
This interior bathing will do for me, that is,
confidence in the Buddha.”
Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Ðại Lâm, chỗ ngôi nhà có nóc nhọn.
Vi-n 2 Rồi đại thần người Licchavi tên là Nandaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Nandaka, vị đại thần người Licchavi đang ngồi một bên:
—Này Nandaka, thành tựu bốn pháp, một vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu … chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?
Vi-n 3 Ở đây, này Nandaka, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh … đưa đến Thiền định. Thành tựu bốn pháp này, này Nandaka, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 4 Thành tựu bốn pháp này, này Nadaka, vị Thánh đệ tử liên hệ đến tuổi thọ chư Thiên và loài Người, liên hệ đến dung sắc, liên hệ đến an lạc, liên hệ đến thanh danh, liên hệ đến lực tăng thượng (adhipateyya) chư Thiên và loài Người.
Vi-n 5 Ðiểm này, này Nandaka, Ta biết chứ không phải nhờ nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào rồi Ta tuyên bố. Chính do tự Ta biết, tự Ta thấy, tự Ta ý thức rồi Ta tuyên bố.
Vi-n 6 Khi được nghe nói vậy, một người thưa với Nandaka, vị đại thần người Licchavi:
—Thưa Ðại quan, nay đã đến giờ tắm.
—Thôi, nay đã vừa rồi, này Bạn, đó chỉ là sự tắm rửa bề ngoài. Tắm rửa bên trong này là vừa đủ cho ta, tức là lòng tịnh tín đối với Thế Tôn.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho nandako licchavimahāmatto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho nandakaṁ licchavimahāmattaṁ bhagavā etadavoca:
“Catūhi kho, nandaka, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Katamehi catūhi?
Idha, nandaka, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Imehi kho, nandaka, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Imehi ca pana, nandaka, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako āyunā saṁyutto hoti dibbenapi mānusenapi;
vaṇṇena saṁyutto hoti dibbenapi mānusenapi;
sukhena saṁyutto hoti dibbenapi mānusenapi;
yasena saṁyutto hoti dibbenapi mānusenapi;
ādhipateyyena saṁyutto hoti dibbenapi mānusenapi.
Taṁ kho panāhaṁ, nandaka, nāññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā vadāmi. Api ca yadeva mayā sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ, tadevāhaṁ vadāmī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro puriso nandakaṁ licchavimahāmattaṁ etadavoca:
“nahānakālo, bhante”ti.
“Alaṁ dāni, bhaṇe, etena bāhirena nahānena.
Alamidaṁ ajjhattaṁ nahānaṁ bhavissati, yadidaṁ—
bhagavati pasādo”ti.
Dasamaṁ.
Saraṇānivaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Mahānāmena dve vuttā,
godhā ca saraṇā duve;
Duve anāthapiṇḍikā,
duve verabhayena ca;
Licchavī dasamo vutto,
vaggo tena pavuccatīti.