Vi-n 1-3. Nhân duyên ở Sāvatthi …
—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người tu Thiền này. Thế nào là bốn?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo về kiên trì trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo về thích ứng trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về kiên trì trong Thiền định.
Vi-n 6 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, không thiện xảo về kiên trì trong Thiền định và cũng không thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
Vi-n 7 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo về kiên trì trong Thiền định, và cũng thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
Vi-n 8 Tại đây, này các Tỷ-kheo, người tu Thiền thiện xảo về kiên trì trong Thiền định và cũng thiện xảo về thích ứng trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, người tu Thiền này là tối tôn, tối thắng, là bậc thượng thủ, là tối thượng và tối diệu.
Vi-n 9 Ví như, này các Tỷ-kheo, từ bò cái, có được sữa; từ sữa có lạc; từ lạc có sanh tô; từ sanh tô có thục tô; từ thục tô có đề hồ. Và đề hồ được xem là tối tôn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị tu Thiền này đối với bốn vị tu Thiền ấy, vị này là tối tôn, tối thắng, là bậc thượng thủ, là tối thượng, và tối diệu.
Vi-n 10 Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
(Như vậy có 55 câu trả lời vắn tắt cần phải giải thích cho rộng)
Hết Tập III
Sāvatthinidānaṁ.
“Cattārome, bhikkhave, jhāyī.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī hoti, na samādhismiṁ sappāyakārī.
Idha pana, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ sappāyakārī hoti, na samādhismiṁ sātaccakārī.
Idha pana, bhikkhave, ekacco jhāyī neva samādhismiṁ sātaccakārī hoti, na ca samādhismiṁ sappāyakārī.
Idha pana, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī ca hoti, samādhismiṁ sappāyakārī ca.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī ca hoti samādhismiṁ sappāyakārī ca ayaṁ imesaṁ catunnaṁ jhāyīnaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro ca.
Seyyathāpi, bhikkhave, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo tatra aggamakkhāyati;
evameva kho, bhikkhave, yvāyaṁ jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī ca hoti, samādhismiṁ sappāyakārī ca ayaṁ imesaṁ catunnaṁ jhāyīnaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro cā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Pañcapaññāsamaṁ.
(Yathā pañcapaññāsaṁ veyyākaraṇāni honti tathā vitthāretabbāni.)
Khandhavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Samādhi samāpatti ṭhiti ca,
Vuṭṭhānaṁ kallitārammaṇena ca;
Gocarā abhinīhāro sakkacca,
Sātacca athopi sappāyanti.
Jhānasaṁyuttaṁ samattaṁ.
Tassuddānaṁ
Khandha rādhasaṁyuttañca,
diṭṭhiokkanta uppādā;
Kilesa sāriputtā ca,
nāgā supaṇṇa gandhabbā;
Valāha vacchajhānanti,
khandhavaggamhi terasāti.
Khandhavaggasaṁyuttapāḷi niṭṭhitā.
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are these four meditators.
What four?
One meditator is skilled in practicing persistently for immersion but not in doing what’s conducive to it.
One meditator is skilled in doing what’s conducive to immersion but not in practicing persistently for it.
One meditator is skilled neither in practicing persistently for immersion nor in doing what’s conducive to it.
One meditator is skilled both in practicing persistently for immersion and in doing what’s conducive to it.
Of these, the meditator skilled both in practicing persistently for immersion and in doing what’s conducive to it is the foremost, best, leading, highest, and finest of the four.
From a cow comes milk, from milk comes curds, from curds come butter, from butter comes ghee, and from ghee comes cream of ghee. And the cream of ghee is said to be the best of these.
In the same way, the meditator skilled both in practicing persistently for immersion and in doing what’s conducive to it is the foremost, best, leading, highest, and finest of the four.”
That is what the Buddha said.
Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
(All should be told in full as per the fifty-fifth discourse.)
The Linked Discourses on Absorption are complete.
The Book of the Aggregates is finished.
Vi-n 1-3. Nhân duyên ở Sāvatthi …
—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người tu Thiền này. Thế nào là bốn?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo về kiên trì trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo về thích ứng trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về kiên trì trong Thiền định.
Vi-n 6 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, không thiện xảo về kiên trì trong Thiền định và cũng không thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
Vi-n 7 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo về kiên trì trong Thiền định, và cũng thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
Vi-n 8 Tại đây, này các Tỷ-kheo, người tu Thiền thiện xảo về kiên trì trong Thiền định và cũng thiện xảo về thích ứng trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, người tu Thiền này là tối tôn, tối thắng, là bậc thượng thủ, là tối thượng và tối diệu.
Vi-n 9 Ví như, này các Tỷ-kheo, từ bò cái, có được sữa; từ sữa có lạc; từ lạc có sanh tô; từ sanh tô có thục tô; từ thục tô có đề hồ. Và đề hồ được xem là tối tôn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị tu Thiền này đối với bốn vị tu Thiền ấy, vị này là tối tôn, tối thắng, là bậc thượng thủ, là tối thượng, và tối diệu.
Vi-n 10 Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
(Như vậy có 55 câu trả lời vắn tắt cần phải giải thích cho rộng)
Hết Tập III
Sāvatthinidānaṁ.
“Cattārome, bhikkhave, jhāyī.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī hoti, na samādhismiṁ sappāyakārī.
Idha pana, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ sappāyakārī hoti, na samādhismiṁ sātaccakārī.
Idha pana, bhikkhave, ekacco jhāyī neva samādhismiṁ sātaccakārī hoti, na ca samādhismiṁ sappāyakārī.
Idha pana, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī ca hoti, samādhismiṁ sappāyakārī ca.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī ca hoti samādhismiṁ sappāyakārī ca ayaṁ imesaṁ catunnaṁ jhāyīnaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro ca.
Seyyathāpi, bhikkhave, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo tatra aggamakkhāyati;
evameva kho, bhikkhave, yvāyaṁ jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī ca hoti, samādhismiṁ sappāyakārī ca ayaṁ imesaṁ catunnaṁ jhāyīnaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro cā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Pañcapaññāsamaṁ.
(Yathā pañcapaññāsaṁ veyyākaraṇāni honti tathā vitthāretabbāni.)
Khandhavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Samādhi samāpatti ṭhiti ca,
Vuṭṭhānaṁ kallitārammaṇena ca;
Gocarā abhinīhāro sakkacca,
Sātacca athopi sappāyanti.
Jhānasaṁyuttaṁ samattaṁ.
Tassuddānaṁ
Khandha rādhasaṁyuttañca,
diṭṭhiokkanta uppādā;
Kilesa sāriputtā ca,
nāgā supaṇṇa gandhabbā;
Valāha vacchajhānanti,
khandhavaggamhi terasāti.
Khandhavaggasaṁyuttapāḷi niṭṭhitā.