Vi-n 1-2~1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3~2 —Này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, vào buổi chiều, đi ra khỏi hang. Sau khi ra khỏi hang, nó duỗi thân mình và chân. Sau khi duỗi thân mình và chân, nó nhìn xung quanh bốn phương. Sau khi nhìn xung quanh bốn phương, nó rống lên tiếng rống sư tử ba lần. Sau khi rống tiếng rống sư tử ba lần, nó đi tìm mồi. Này các Tỷ-kheo, các loài thú thuộc loại bàng sanh, nghe tiếng rống của con sư tử, vua các loài thú, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Các loài ở hang tìm vào hang. Các loài ở nước tìm xuống nước. Các loài ở rừng tìm vào rừng. Các loài chim bay lên hư không.
Vi-n 5~3 Này các Tỷ-kheo, các loài voi chúa ở tại làng, thị trấn hay thành phố, bị trói bởi các cây đa cứng chắc, bứt đứt, giật đứt những sợi dây ấy, khiếp đảm cuồng chạy, tung cả phân và nước tiểu.
Vi-n 6~4 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của con sư tử, vua các loài thú; đối với loài bàng sanh, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.
Vi-n 7~5 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai xuất hiện ở đời, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy thuyết pháp: Ðây là sắc. Ðây là sắc tập khởi. Ðây là sắc đoạn diệt. Ðây là con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ðây là thọ … Ðây là tưởng … Ðây là các hành … Ðây là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn diệt. Ðây là con đường đưa đến thức đoạn diệt.
Vi-n 8~6 Này các Tỷ-kheo, có những chư Thiên nào, tuổi thọ dài, có mỹ sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu đài to lớn. Các chư Thiên này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn họ trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Họ nghĩ: “Chúng ta là vô thường, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn. Chúng ta là không thường hằng, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường hằng. Chúng ta không thường trú, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư Tôn giả, chúng ta là vô thường, không thường hằng, không thường trú, bị thâu nhiếp trong một thân này”.
Vi-n 9~7 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của Như Lai đối với chư Thiên và thế giới chư Thiên, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.
Vi-n 10~8 Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thuyết giảng như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~9 Khi Phật với thượng trí,
Chuyển bánh xe Chánh pháp,
Cho Thiên giới, Nhân giới,
Bậc Ðạo Sư vô tỷ.
Vi-n 2~10 Sự đoạn diệt tự thân,
Sự hiện hữu tự thân,
Và đường Thánh Tám ngành
Ðưa đến khổ diệt tận,
Vi-n 3~11 Chư Thiên được trường thọ,
Có mỹ sắc danh xưng,
Sanh khiếp đảm, sợ hãi,
Như thú thấy sư tử.
Vi-n 4~12 Vì chưa thoát tự thân,
“Chúng ta là vô thường”,
Nghe lời bậc Ứng Cúng,
Ðã giải thoát như vậy.
Sāvatthinidānaṁ.
“Sīho, bhikkhave, migarājā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhamati; āsayā nikkhamitvā vijambhati; vijambhitvā samantā catuddisā anuviloketi; samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadati; tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkamati.
Ye hi keci, bhikkhave, tiracchānagatā pāṇā sīhassa migarañño nadato saddaṁ suṇanti; yebhuyyena bhayaṁ saṁvegaṁ santāsaṁ āpajjanti; bilaṁ bilāsayā pavisanti; dakaṁ dakāsayā pavisanti; vanaṁ vanāsayā pavisanti; ākāsaṁ pakkhino bhajanti.
Yepi te, bhikkhave, rañño nāgā gāmanigamarājadhānīsu, daḷhehi varattehi baddhā, tepi tāni bandhanāni sañchinditvā sampadāletvā bhītā muttakarīsaṁ cajamānā, yena vā tena vā palāyanti.
Evaṁ mahiddhiko kho, bhikkhave, sīho migarājā tiracchānagatānaṁ pāṇānaṁ, evaṁ mahesakkho, evaṁ mahānubhāvo.
Evameva kho, bhikkhave, yadā tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So dhammaṁ deseti:
‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā …
iti saññā …
iti saṅkhārā …
iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti.
Yepi te, bhikkhave, devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā uccesu vimānesu ciraṭṭhitikā tepi tathāgatassa dhammadesanaṁ sutvā yebhuyyena bhayaṁ saṁvegaṁ santāsaṁ āpajjanti:
‘aniccāva kira, bho, mayaṁ samānā niccamhāti amaññimha.
Addhuvāva kira, bho, mayaṁ samānā dhuvamhāti amaññimha.
Asassatāva kira, bho, mayaṁ samānā sassatamhāti amaññimha.
Mayampi kira, bho, aniccā addhuvā asassatā sakkāyapariyāpannā’ti.
Evaṁ mahiddhiko kho, bhikkhave, tathāgato sadevakassa lokassa, evaṁ mahesakkho, evaṁ mahānubhāvo”ti.
Idamavoca bhagavā …pe…
etadavoca satthā:
“Yadā buddho abhiññāya,
dhammacakkaṁ pavattayi;
Sadevakassa lokassa,
satthā appaṭipuggalo.
Sakkāyañca nirodhañca,
sakkāyassa ca sambhavaṁ;
Ariyañcaṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Yepi dīghāyukā devā,
vaṇṇavanto yasassino;
Bhītā santāsamāpāduṁ,
sīhassevitare migā.
Avītivattā sakkāyaṁ,
aniccā kira bho mayaṁ;
Sutvā arahato vākyaṁ,
vippamuttassa tādino”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1At Savatthi. “Bhikkhus, in the evening the lion, the king of beasts, comes out from his lair. Having come out, he stretches himself, surveys the four quarters all around, and roars his lion’s roar three times. Then he sets out in search of game. sn.iii.85
SC 2“When the lion, the king of beasts, roars, whatever animals hear the sound are for the most part filled with fear, a sense of urgency, and terror. Those who live in holes enter their holes; those who live in the water enter the water; those who live in the woods enter the woods; and the birds fly up into the air. Even those royal bull elephants, bound by strong thongs in the villages, towns, and capital cities, burst and break their bonds asunder; frightened, they urinate and defecate and flee here and there. So powerful, bhikkhus, is the lion, the king of beasts, among the animals, so majestic and mighty.
SC 3“So too, bhikkhus, when the Tathagata arises in the world, an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed leader of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One, he teaches the Dhamma thus: ‘Such is form, such its origin, such its passing away; such is feeling … such is perception … such are volitional formations … such is consciousness, such its origin, such its passing away.’
SC 4“Then, bhikkhus, when those devas who are long-lived, beautiful, abounding in happiness, dwelling for a long time in lofty palaces, hear the Tathagata’s teaching of the Dhamma, they are for the most part filled with fear, a sense of urgency, and terror, saying: ‘It seems, sir, that we are impermanent, though we thought ourselves permanent; it seems, sir, that we are unstable, though we thought ourselves stable; it seems, sir, that we are noneternal, though we thought ourselves eternal. It seems, sir, that we are impermanent, unstable, noneternal, included within identity.’ So powerful, bhikkhus, is the Tathagata over this world together with its devas, so majestic and mighty.”
SC 5This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this: sn.iii.86
SC 6“When the Buddha, through direct knowledge,
Sets in motion the Wheel of Dhamma,
The peerless Teacher in this world
With its devas makes this known:
SC 7“The cessation of identity
And the origin of identity,
Also the Noble Eightfold Path
That leads to suffering’s appeasement.
SC 8“Then those devas with long life spans,
Beautiful, ablaze with glory,
Are struck with fear, filled with terror,
Like beasts who hear the lion’s roar.
SC 9“‘We’ve not transcended identity;
It seems, sir, we’re impermanent,’
So they say having heard the utterance
Of the Arahant, the released Stable One.”
Vi-n 1-2~1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3~2 —Này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, vào buổi chiều, đi ra khỏi hang. Sau khi ra khỏi hang, nó duỗi thân mình và chân. Sau khi duỗi thân mình và chân, nó nhìn xung quanh bốn phương. Sau khi nhìn xung quanh bốn phương, nó rống lên tiếng rống sư tử ba lần. Sau khi rống tiếng rống sư tử ba lần, nó đi tìm mồi. Này các Tỷ-kheo, các loài thú thuộc loại bàng sanh, nghe tiếng rống của con sư tử, vua các loài thú, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Các loài ở hang tìm vào hang. Các loài ở nước tìm xuống nước. Các loài ở rừng tìm vào rừng. Các loài chim bay lên hư không.
Vi-n 5~3 Này các Tỷ-kheo, các loài voi chúa ở tại làng, thị trấn hay thành phố, bị trói bởi các cây đa cứng chắc, bứt đứt, giật đứt những sợi dây ấy, khiếp đảm cuồng chạy, tung cả phân và nước tiểu.
Vi-n 6~4 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của con sư tử, vua các loài thú; đối với loài bàng sanh, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.
Vi-n 7~5 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai xuất hiện ở đời, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy thuyết pháp: Ðây là sắc. Ðây là sắc tập khởi. Ðây là sắc đoạn diệt. Ðây là con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ðây là thọ … Ðây là tưởng … Ðây là các hành … Ðây là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn diệt. Ðây là con đường đưa đến thức đoạn diệt.
Vi-n 8~6 Này các Tỷ-kheo, có những chư Thiên nào, tuổi thọ dài, có mỹ sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu đài to lớn. Các chư Thiên này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn họ trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Họ nghĩ: “Chúng ta là vô thường, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn. Chúng ta là không thường hằng, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường hằng. Chúng ta không thường trú, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư Tôn giả, chúng ta là vô thường, không thường hằng, không thường trú, bị thâu nhiếp trong một thân này”.
Vi-n 9~7 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của Như Lai đối với chư Thiên và thế giới chư Thiên, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.
Vi-n 10~8 Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thuyết giảng như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~9 Khi Phật với thượng trí,
Chuyển bánh xe Chánh pháp,
Cho Thiên giới, Nhân giới,
Bậc Ðạo Sư vô tỷ.
Vi-n 2~10 Sự đoạn diệt tự thân,
Sự hiện hữu tự thân,
Và đường Thánh Tám ngành
Ðưa đến khổ diệt tận,
Vi-n 3~11 Chư Thiên được trường thọ,
Có mỹ sắc danh xưng,
Sanh khiếp đảm, sợ hãi,
Như thú thấy sư tử.
Vi-n 4~12 Vì chưa thoát tự thân,
“Chúng ta là vô thường”,
Nghe lời bậc Ứng Cúng,
Ðã giải thoát như vậy.
Sāvatthinidānaṁ.
“Sīho, bhikkhave, migarājā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhamati; āsayā nikkhamitvā vijambhati; vijambhitvā samantā catuddisā anuviloketi; samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadati; tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkamati.
Ye hi keci, bhikkhave, tiracchānagatā pāṇā sīhassa migarañño nadato saddaṁ suṇanti; yebhuyyena bhayaṁ saṁvegaṁ santāsaṁ āpajjanti; bilaṁ bilāsayā pavisanti; dakaṁ dakāsayā pavisanti; vanaṁ vanāsayā pavisanti; ākāsaṁ pakkhino bhajanti.
Yepi te, bhikkhave, rañño nāgā gāmanigamarājadhānīsu, daḷhehi varattehi baddhā, tepi tāni bandhanāni sañchinditvā sampadāletvā bhītā muttakarīsaṁ cajamānā, yena vā tena vā palāyanti.
Evaṁ mahiddhiko kho, bhikkhave, sīho migarājā tiracchānagatānaṁ pāṇānaṁ, evaṁ mahesakkho, evaṁ mahānubhāvo.
Evameva kho, bhikkhave, yadā tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So dhammaṁ deseti:
‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā …
iti saññā …
iti saṅkhārā …
iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti.
Yepi te, bhikkhave, devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā uccesu vimānesu ciraṭṭhitikā tepi tathāgatassa dhammadesanaṁ sutvā yebhuyyena bhayaṁ saṁvegaṁ santāsaṁ āpajjanti:
‘aniccāva kira, bho, mayaṁ samānā niccamhāti amaññimha.
Addhuvāva kira, bho, mayaṁ samānā dhuvamhāti amaññimha.
Asassatāva kira, bho, mayaṁ samānā sassatamhāti amaññimha.
Mayampi kira, bho, aniccā addhuvā asassatā sakkāyapariyāpannā’ti.
Evaṁ mahiddhiko kho, bhikkhave, tathāgato sadevakassa lokassa, evaṁ mahesakkho, evaṁ mahānubhāvo”ti.
Idamavoca bhagavā …pe…
etadavoca satthā:
“Yadā buddho abhiññāya,
dhammacakkaṁ pavattayi;
Sadevakassa lokassa,
satthā appaṭipuggalo.
Sakkāyañca nirodhañca,
sakkāyassa ca sambhavaṁ;
Ariyañcaṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Yepi dīghāyukā devā,
vaṇṇavanto yasassino;
Bhītā santāsamāpāduṁ,
sīhassevitare migā.
Avītivattā sakkāyaṁ,
aniccā kira bho mayaṁ;
Sutvā arahato vākyaṁ,
vippamuttassa tādino”ti.
Chaṭṭhaṁ.