Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sumbha, tại một thị trấn của dân chúng Sumbha tên là Sedaka.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …
Vi-n 3 —Ví như một số đông quần chúng, này các Tỷ-kheo, tụ họp lại và nói: “Cô gái hoa hậu của quốc độ. Cô gái hoa hậu của quốc độ!”. Và người con gái hoa hậu quốc độ ấy với tất cả sự quyến rủ của mình, múa cho họ xem, với tất cả sự quyến rủ của mình, hát cho họ nghe. Và một số quần chúng còn đông hơn tụ họp lại và nói: “Cô gái hoa hậu của quốc độ múa và hát”. Rồi một người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, họ nói với người ấy như sau: “Này Ông, hãy xem đây. Ðây là cái bát đầy dầu. Ông hãy mang bát dầu ấy và đi vòng quanh đám quần chúng lớn và người con gái hoa hậu của quốc độ. Và một người với cây kiếm giơ cao sẽ đi theo sau lưng Ông. Tại chỗ nào làm đổ một ít dầu, tại chỗ ấy, đầu Ông bị rơi xuống”. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, người ấy có thể không tác ý đến bát dầu, phóng tâm hướng ngoại không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 4 —Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta nói ra để nêu rõ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó. Này các Tỷ-kheo, cái bát đầy dầu là đồng nghĩa với thân hành niệm.
Vi-n 5 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành đất nền, làm cho tiếp tục an trú, làm cho tích tập, làm cho khéo có hiệu năng (susamàraddhà)”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sumbhesu viharati sedakaṁ nāma sumbhānaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Seyyathāpi, bhikkhave, ‘janapadakalyāṇī, janapadakalyāṇī’ti kho, bhikkhave, mahājanakāyo sannipateyya.
‘Sā kho panassa janapadakalyāṇī paramapāsāvinī nacce, paramapāsāvinī gīte.
Janapadakalyāṇī naccati gāyatī’ti kho, bhikkhave, bhiyyoso mattāya mahājanakāyo sannipateyya.
Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo.
Tamenaṁ evaṁ vadeyya:
‘ayaṁ te, ambho purisa, samatittiko telapatto antarena ca mahāsamajjaṁ antarena ca janapadakalyāṇiyā pariharitabbo.
Puriso ca te ukkhittāsiko piṭṭhito piṭṭhito anubandhissati.
Yattheva naṁ thokampi chaḍḍessati tattheva te siro pātessatī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu so puriso amuṁ telapattaṁ amanasikaritvā bahiddhā pamādaṁ āhareyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Upamā kho myāyaṁ, bhikkhave, katā atthassa viññāpanāya.
Ayaṁ cevettha attho—
samatittiko telapattoti kho, bhikkhave, kāyagatāya etaṁ satiyā adhivacanaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘kāyagatā sati no bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti.
Evañhi kho, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dasamaṁ.
Nālandavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Mahāpuriso nālandaṁ,
Cundo celañca bāhiyo;
Uttiyo ariyo brahmā,
Sedakaṁ janapadena cāti.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was living among the Sumbhas, where there was a town of the Sumbhas named Sedaka. sn.v.170 There the Blessed One addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus!”
SC 2“Venerable sir!” the bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 3“Bhikkhus, suppose that on hearing, ‘The most beautiful girl of the land! The most beautiful girl of the land!’ a great crowd of people would assemble. Now that most beautiful girl of the land would dance exquisitely and sing exquisitely. On hearing, ‘The most beautiful girl of the land is dancing! The most beautiful girl of the land is singing!’ an even larger crowd of people would assemble. Then a man would come along, wishing to live, not wishing to die, wishing for happiness, averse to suffering. Someone would say to him: ‘Good man, you must carry around this bowl of oil filled to the brim between the crowd and the most beautiful girl of the land. A man with a drawn sword will be following right behind you, and wherever you spill even a little of it, right there he will fell your head.’
SC 4“What do you think, bhikkhus, would that man stop attending to that bowl of oil and out of negligence turn his attention outwards?”
“No, venerable sir.”
SC 5“I have made up this simile, bhikkhus, in order to convey a meaning. This here is the meaning: ‘The bowl of oil filled to the brim’: this is a designation for mindfulness directed to the body. Therefore, bhikkhus, you should train yourselves thus: ‘We will develop and cultivate mindfulness directed to the body, make it our vehicle, make it our basis, stabilize it, exercise ourselves in it, and fully perfect it.’ Thus, bhikkhus, should you train yourselves.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sumbha, tại một thị trấn của dân chúng Sumbha tên là Sedaka.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …
Vi-n 3 —Ví như một số đông quần chúng, này các Tỷ-kheo, tụ họp lại và nói: “Cô gái hoa hậu của quốc độ. Cô gái hoa hậu của quốc độ!”. Và người con gái hoa hậu quốc độ ấy với tất cả sự quyến rủ của mình, múa cho họ xem, với tất cả sự quyến rủ của mình, hát cho họ nghe. Và một số quần chúng còn đông hơn tụ họp lại và nói: “Cô gái hoa hậu của quốc độ múa và hát”. Rồi một người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, họ nói với người ấy như sau: “Này Ông, hãy xem đây. Ðây là cái bát đầy dầu. Ông hãy mang bát dầu ấy và đi vòng quanh đám quần chúng lớn và người con gái hoa hậu của quốc độ. Và một người với cây kiếm giơ cao sẽ đi theo sau lưng Ông. Tại chỗ nào làm đổ một ít dầu, tại chỗ ấy, đầu Ông bị rơi xuống”. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, người ấy có thể không tác ý đến bát dầu, phóng tâm hướng ngoại không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 4 —Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta nói ra để nêu rõ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó. Này các Tỷ-kheo, cái bát đầy dầu là đồng nghĩa với thân hành niệm.
Vi-n 5 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành đất nền, làm cho tiếp tục an trú, làm cho tích tập, làm cho khéo có hiệu năng (susamàraddhà)”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sumbhesu viharati sedakaṁ nāma sumbhānaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Seyyathāpi, bhikkhave, ‘janapadakalyāṇī, janapadakalyāṇī’ti kho, bhikkhave, mahājanakāyo sannipateyya.
‘Sā kho panassa janapadakalyāṇī paramapāsāvinī nacce, paramapāsāvinī gīte.
Janapadakalyāṇī naccati gāyatī’ti kho, bhikkhave, bhiyyoso mattāya mahājanakāyo sannipateyya.
Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo.
Tamenaṁ evaṁ vadeyya:
‘ayaṁ te, ambho purisa, samatittiko telapatto antarena ca mahāsamajjaṁ antarena ca janapadakalyāṇiyā pariharitabbo.
Puriso ca te ukkhittāsiko piṭṭhito piṭṭhito anubandhissati.
Yattheva naṁ thokampi chaḍḍessati tattheva te siro pātessatī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu so puriso amuṁ telapattaṁ amanasikaritvā bahiddhā pamādaṁ āhareyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Upamā kho myāyaṁ, bhikkhave, katā atthassa viññāpanāya.
Ayaṁ cevettha attho—
samatittiko telapattoti kho, bhikkhave, kāyagatāya etaṁ satiyā adhivacanaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘kāyagatā sati no bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti.
Evañhi kho, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dasamaṁ.
Nālandavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Mahāpuriso nālandaṁ,
Cundo celañca bāhiyo;
Uttiyo ariyo brahmā,
Sedakaṁ janapadena cāti.