Vi-n 1 Một thời Tôn giả Mahākassapa trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veḷuvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
I
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đang đi du hành ở Dakkhiṇāgiri (Nam Sơn), cùng với đại chúng Tỷ-kheo.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ có khoảng ba mươi Tỷ-kheo đệ tử của Tôn giả Ānanda, phần lớn còn trẻ tuổi, từ bỏ sự tu học và hoàn tục.
II
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Ānanda, sau khi du hành ở Nam Sơn, tùy theo ý muốn, rồi đi đến Vương Xá, Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, đi đến Tôn giả Mahākassapa, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahākassapa rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Tôn giả Mahākassapa nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi xuống một bên:
—Duyên bao nhiêu lợi ích, này Hiền giả Ānanda, Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ?
Vi-n 6 —Duyên ba lợi ích, thưa Tôn giả Kassapa, nên Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ, để ngăn chận các người ác giới, vì sự lạc trú của các Tỷ-kheo chánh hạnh, chớ để cho ai dựa vào những ác đảng phá hoại chúng Tăng, và vì lòng từ mẫn đối với các gia đình. Thưa Tôn giả Kassapa, do duyên ba lợi ích này nên Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ.
Vi-n 7 —Vậy thời vì sao, này Hiền giả Ānanda, Hiền giả lại cùng du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác? Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, này Hiền giả Ānanda, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, này Hiền giả, đang tan rã! Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình!
Vi-n 8 —Thưa Tôn giả Kassapa, trên đầu tôi, tóc bạc đã sanh, tuy vậy, hôm nay Tôn giả Mahākassapa gọi tôi là đứa trẻ, tôi không có phật lòng.
Vi-n 9 —Thật vậy, này Hiền giả Ānanda, Hiền giả du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác. Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, này Hiền giả Ānanda, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, này Hiền giả, đang tiêu diệt. Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình.
III
Vi-n 10 Tỷ-kheo-ni Thullatissā được nghe Tôn giả Ānanda, bậc Thánh Vedeha lại bị Tôn giả Mahākassapa không hài lòng và gọi là “đứa trẻ”.
Vi-n 11 Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissā không hoan hỷ và thốt ra những lời không hoan hỷ: “Sao Tôn giả Mahākassapa, trước kia là người theo ngoại đạo, lại nghĩ có thể không hài lòng và gọi Tôn giả Ānanda, bậc Thánh Vedeha là đứa trẻ?”
Vi-n 12 Tôn giả Mahākassapa được nghe những lời của Tỷ-kheo-ni Thullatissā nói như vậy.
Vi-n 13 Rồi Tôn giả Mahākassapa nói với Tôn giả Ānanda:
—Này Hiền giả Ānanda, lời nói của Tỷ-kheo-ni Thullatissā thật là đường đột, không đắn đo suy nghĩ! Này Hiền giả, vì rằng ta là người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ta không chấp nhận một Ðạo Sư nào khác ngoài Thế Tôn, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác.
Vi-n 14 Này Hiền giả, trong khi ta còn là gia chủ, ý nghĩ sau đây được khởi lên: “Chật hẹp thay đời sống tại gia, đầy những bụi đời! Còn xuất gia như đời sống ngoài trời. Thật không dễ dàng ở trong gia đình có thể sống Phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Vi-n 15 Rồi này Hiền giả, sau một thời gian ta lấy vải cắt làm áo Tăng-già-lê, và theo thông lệ các vị Ứng Cúng ở đời, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vi-n 16 Xuất gia như vậy, ta đang đi trên đường, thấy Thế Tôn ngồi tại ngôi đền Bahaputta giữa Rājagaha và Nàlandà. Thấy vậy, ta suy nghĩ như sau: “Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Ðạo Sư, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Thiện Thệ, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Chánh Ðẳng Giác, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn?”
Vi-n 17 Và này Hiền giả, ngay tại chỗ ấy, ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
“—Bạch Thế Tôn, Ðạo Sư của con là Thế Tôn. Con là đệ tử”.
Vi-n 18 Khi nghe nói vậy, này Hiền giả, Thế Tôn nói với ta:
—Này Kassapa, những ai với tâm trọn vẹn đầy đủ, không biết một đệ tử mà nói rằng tôi biết, không thấy mà nói rằng tôi thấy, đầu người ấy sẽ vỡ tan. Còn Ta, này Kassapa, Ta biết thời Ta nói Ta biết, Ta thấy thời Ta nói Ta thấy.
Vi-n 19 Do vậy, này Kassapa, ông phải học tập như sau: 'Một tâm quý thật sắc sảo sẽ phải được thiết lập giữa các vị Trưởng lão, niên thiếu và trung niên'. Này Kassapa, ông phải học tập như vậy.
Vi-n 20 Do vậy, này Kassapa, ông phải học tập như sau: 'Phàm pháp gì tôi nghe, liên hệ đến thiện, sau khi đặc biệt chú ý, tác ý, tập trung tất cả tâm (lực), tất cả pháp ấy tôi đều lóng tai nghe'. Này Kassapa, ông phải học tập như vậy.
Vi-n 21 Do vậy, này Kassapa, ông phải học tập như sau: 'Phàm niệm gì thuộc về thân hành, câu hữu với hỷ, ta sẽ không bỏ niệm ấy'. Này Kassapa, ông phải học tập như vậy”.
Vi-n 22 Rồi này Hiền giả, Thế Tôn sau khi giáo giới ta với lời giáo giới ấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 23 Trong bảy ngày, này Hiền giả, đang còn phiền não, ta ăn món ăn của quốc độ, đến ngày thứ tám, chánh trí khởi lên.
Vi-n 24 Rồi này Hiền giả, Thế Tôn từ trên đường bước xuống và đi đến một gốc cây.
Vi-n 25 Rồi này Hiền giả, ta xấp tư tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt, rồi bạch Thế Tôn:
“—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ngồi xuống ở đây, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài”.
Vi-n 26 Này Hiền giả, Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 27 Sau khi ngồi xuống, này Hiền giả, Thế Tôn nói với ta:
“—Thật là mềm dịu, này Kassapa, là tấm y Tăng-già-lê này làm bằng vải cắt của ông”.
“—Bạch Thế Tôn, mong rằng Thế Tôn nhận lấy tấm y làm bằng vải cắt này từ nơi con, vì lòng từ mẫn đối với con”.
Vi-n 28 “—Này Kassapa, ông có dùng tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Ta không?”.
“—Con sẽ dùng, bạch Thế Tôn, tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Thế Tôn”.
Vi-n 29 Như vậy, này Hiền giả, ta cúng cho Thế Tôn tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt; còn ta thời dùng tấm y phấn tảo của Thế Tôn, làm bằng vải gai thô đáng được quăng bỏ.
Vi-n 30 Và này Hiền giả, nếu ai có nói về ta một cách chơn chánh, thời ta là con ruột Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do pháp sanh, do pháp hóa sanh, thừa tự Chánh pháp và đã nhận được tấm y phấn tảo, làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ.
Vi-n 31 Này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Vi-n 32-46 Và này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta… (chín thứ đệ định và năm thắng trí)…
Vi-n 47 Và này Hiền giả, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Vi-n 48 Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưởi bề cao.
Vi-n 49 Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissā đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākassapo rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā ānando dakkhiṇagirismiṁ cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ.
Tena kho pana samayena āyasmato ānandassa tiṁsamattā saddhivihārino bhikkhū sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattā bhavanti yebhuyyena kumārabhūtā.
Atha kho āyasmā ānando dakkhiṇagirismiṁ yathābhirantaṁ cārikaṁ caritvā yena rājagahaṁ veḷuvanaṁ kalandakanivāpo yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākassapaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ āyasmā mahākassapo etadavoca:
“kati nu kho, āvuso ānanda, atthavase paṭicca bhagavatā kulesu tikabhojanaṁ paññattan”ti?
“Tayo kho, bhante kassapa, atthavase paṭicca bhagavatā kulesu tikabhojanaṁ paññattaṁ—
dummaṅkūnaṁ puggalānaṁ niggahāya pesalānaṁ bhikkhūnaṁ phāsuvihārāya, mā pāpicchā pakkhaṁ nissāya saṅghaṁ bhindeyyuṁ, kulānuddayatāya ca.
Ime kho, bhante kassapa, tayo atthavase paṭicca bhagavatā kulesu tikabhojanaṁ paññattan”ti.
“Atha kiñcarahi tvaṁ, āvuso ānanda, imehi navehi bhikkhūhi indriyesu aguttadvārehi bhojane amattaññūhi jāgariyaṁ ananuyuttehi saddhiṁ cārikaṁ carasi?
Sassaghātaṁ maññe carasi, kulūpaghātaṁ maññe carasi.
Olujjati kho te, āvuso ānanda, parisā;
palujjanti kho te, āvuso, navappāyā.
Na vāyaṁ kumārako mattamaññāsī”ti.
“Api me, bhante kassapa, sirasmiṁ palitāni jātāni.
Atha ca pana mayaṁ ajjāpi āyasmato mahākassapassa kumārakavādā na muccāmā”ti.
“Tathā hi pana tvaṁ, āvuso ānanda, imehi navehi bhikkhūhi indriyesu aguttadvārehi bhojane amattaññūhi jāgariyaṁ ananuyuttehi saddhiṁ cārikaṁ carasi, sassaghātaṁ maññe carasi, kulūpaghātaṁ maññe carasi.
Olujjati kho te, āvuso ānanda, parisā;
palujjanti kho te, āvuso, navappāyā.
Na vāyaṁ kumārako mattamaññāsī”ti.
Assosi kho thullanandā bhikkhunī:
“ayyena kira mahākassapena ayyo ānando vedehamuni kumārakavādena apasādito”ti.
Atha kho thullanandā bhikkhunī anattamanā anattamanavācaṁ nicchāresi:
“kiṁ pana ayyo mahākassapo aññatitthiyapubbo samāno ayyaṁ ānandaṁ vedehamuniṁ kumārakavādena apasādetabbaṁ maññatī”ti.
Assosi kho āyasmā mahākassapo thullanandāya bhikkhuniyā imaṁ vācaṁ bhāsamānāya.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“tagghāvuso ānanda, thullanandāya bhikkhuniyā sahasā appaṭisaṅkhā vācā bhāsitā.
Yatvāhaṁ, āvuso, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, nābhijānāmi aññaṁ satthāraṁ uddisitā, aññatra tena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena.
Pubbe me, āvuso, agārikabhūtassa sato etadahosi:
‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā.
Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, aparena samayena paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ kāretvā ye loke arahanto te uddissa kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁ.
So evaṁ pabbajito samāno addhānamaggappaṭipanno addasaṁ bhagavantaṁ antarā ca rājagahaṁ antarā ca nāḷandaṁ bahuputte cetiye nisinnaṁ.
Disvāna me etadahosi:
‘satthārañca vatāhaṁ passeyyaṁ, bhagavantameva passeyyaṁ;
sugatañca vatāhaṁ passeyyaṁ, bhagavantameva passeyyaṁ;
sammāsambuddhañca vatāhaṁ passeyyaṁ;
bhagavantameva passeyyan’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, tattheva bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocaṁ:
‘satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmi;
satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmī’ti.
Evaṁ vutte, maṁ, āvuso, bhagavā etadavoca:
‘yo kho, kassapa, evaṁ sabbacetasā samannāgataṁ sāvakaṁ ajānaññeva vadeyya jānāmīti, apassaññeva vadeyya passāmīti, muddhāpi tassa vipateyya.
Ahaṁ kho pana, kassapa, jānaññeva vadāmi jānāmīti, passaññeva vadāmi passāmīti.
Tasmātiha te, kassapa, evaṁ sikkhitabbaṁ:
“tibbaṁ me hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ bhavissati theresu navesu majjhimesū”ti.
Evañhi te, kassapa, sikkhitabbaṁ.
Tasmātiha te, kassapa, evaṁ sikkhitabbaṁ:
“yaṁ kiñci dhammaṁ suṇissāmi kusalūpasaṁhitaṁ sabbaṁ taṁ aṭṭhiṁ katvā manasi karitvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasoto dhammaṁ suṇissāmī”ti.
Evañhi te, kassapa, sikkhitabbaṁ.
Tasmātiha te, kassapa, evaṁ sikkhitabbaṁ:
“sātasahagatā ca me kāyagatāsati na vijahissatī”ti.
Evañhi te, kassapa, sikkhitabbanti’.
Atha kho maṁ, āvuso, bhagavā iminā ovādena ovaditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Sattāhameva khvāhaṁ, āvuso, saraṇo raṭṭhapiṇḍaṁ bhuñjiṁ aṭṭhamiyā aññā udapādi.
Atha kho, āvuso, bhagavā maggā okkamma yena aññataraṁ rukkhamūlaṁ tenupasaṅkami.
Atha khvāhaṁ, āvuso, paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ catugguṇaṁ paññapetvā bhagavantaṁ etadavocaṁ:
‘idha, bhante, bhagavā nisīdatu, yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.
Nisīdi kho, āvuso, bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho maṁ, āvuso, bhagavā etadavoca:
‘mudukā kho tyāyaṁ, kassapa, paṭapilotikānaṁ saṅghāṭī’ti.
‘Paṭiggaṇhātu me, bhante, bhagavā paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ anukampaṁ upādāyā’ti.
‘Dhāressasi pana me tvaṁ, kassapa, sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti.
‘Dhāressāmahaṁ, bhante, bhagavato sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ bhagavato pādāsiṁ.
Ahaṁ pana bhagavato sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanāni paṭipajjiṁ.
Yañhi taṁ, āvuso, sammā vadamāno vadeyya:
‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo, paṭiggahitāni sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti, mamaṁ taṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo, paṭiggahitāni sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti.
Ahaṁ kho, āvuso, yāvade ākaṅkhāmi vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Ahaṁ kho, āvuso, yāvade ākaṅkhāmi …pe…
(navannaṁ anupubbavihārasamāpattīnaṁ pañcannañca abhiññānaṁ evaṁ vitthāro veditabbo.)
Ahaṁ kho, āvuso, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmi;
sattaratanaṁ vā, āvuso, nāgaṁ aḍḍhaṭṭhamaratanaṁ vā tālapattikāya chādetabbaṁ maññeyya, yo me cha abhiññā chādetabbaṁ maññeyyā”ti.
Cavittha ca pana thullanandā bhikkhunī brahmacariyamhāti.
Ekādasamaṁ.
SC 1On one occasion the Venerable Mahakassapa was dwelling in Rajagaha in the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary. Now on that occasion the Venerable Ānanda was wandering on tour in Dakkhiṇagiri together with a large Saṅgha of bhikkhus. Now on that occasion thirty bhikkhus—pupils of the Venerable Ānanda—most of them youngsters, had given up the training and had returned to the lower life. sn.ii.218
SC 2When the Venerable Ānanda had wandered on tour in Dakkhiṇagiri as long as he wanted, he came back to Rajagaha, to the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary. He approached the Venerable Mahakassapa, paid homage to him, and sat down to one side, and the Venerable Mahakassapa said to him: “Friend Ānanda, for how many reasons did the Blessed One lay down the rule that bhikkhus should not take meals among families in groups of more than three?”
SC 3“The Blessed One laid down this rule for three reasons, Venerable Kassapa: for restraining ill-behaved persons and for the comfort of well-behaved bhikkhus, with the intention, ‘May those of evil wishes, by forming a faction, not create a schism in the Saṅgha!’; and out of sympathy towards families. It is for these three reasons, Venerable Kassapa, that the Blessed One laid down this rule.”
SC 4“Then why, friend Ānanda, are you wandering about with these young bhikkhus who are unguarded in their sense faculties, immoderate in eating, and not devoted to wakefulness? One would think you were wandering about trampling on crops; one would think you were wandering about destroying families. Your retinue is breaking apart, friend Ānanda, your young followers are slipping away. But still this youngster does not know his measure!”
SC 5“Grey hairs are growing on my head, Venerable Kassapa. Can’t we escape being called a youngster by the Venerable Mahakassapa?” sn.ii.219
SC 6“Friend Ānanda, it is just because you wander around with these young bhikkhus who are unguarded in their sense faculties…. But still this youngster does not know his measure!”
SC 7The bhikkhunī Thullananda heard : “Master Mahakassapa has disparaged Master Ānanda, the Videhan sage, by calling him a youngster.” Then, being displeased at this, she expressed her displeasure thus: “How can Master Mahakassapa, who was formerly a member of another sect, think to disparage Master Ānanda, the Videhan sage, by calling him a youngster?”
SC 8The Venerable Mahakassapa overheard the bhikkhunī Thullananda making this statement and said to the Venerable Ānanda: “Surely, friend Ānanda, the bhikkhunī Thullananda made that statement rashly, without consideration. For since I shaved off my hair and beard, put on saffron robes, and went forth from the home life into homelessness, I do not recall ever having acknowledged any other teacher except the Blessed One, the Arahant, the Perfectly Enlightened One.
SC 9“In the past, friend, when I was still a householder, it occurred to me: ‘Household life is confinement, a path of dust, going forth is like the open air. It is not easy for one living at home to lead the perfectly complete, perfectly purified holy life, which is like polished conch. Let me then shave off my hair and beard, put on saffron robes, and go forth from the household life into homelessness. ’ Some time later sn.ii.220 I had an outer robe made from patches of cloth; then, acknowledging those who were arahants in the world as models, I shaved off my hair and beard, put on saffron robes, and went forth from the household life into homelessness.
SC 10“When I had thus gone forth, I was travelling along a road when I saw the Blessed One sitting by the Bahuputta Shrine between Rajagaha and Nalanda. Having seen him, I thought: ‘If I should ever see the Teacher, it is the Blessed One himself that I would see. If I should ever see the Fortunate One, it is the Blessed One himself that I would see. If I should ever see the Perfectly Enlightened One, it is the Blessed One himself that I would see.’ Then I prostrated myself right there at the Blessed One’s feet and said to him: ‘Venerable sir, the Blessed One is my teacher, I am his disciple. Venerable sir, the Blessed One is my teacher, I am his disciple.’
SC 11“When I had said this, the Blessed One said to me: ‘Kassapa, if one who does not know and see should say to a disciple so single-minded as yourself: “I know, I see,” his head would split. But knowing, Kassapa, I say, “I know”; seeing, I say, “I see.” “‘Therefore, Kassapa, you should train yourself thus: “I will arouse a keen sense of shame and fear of wrongdoing towards elders, the newly ordained, and those of middle status.” Thus should you train yourself.
SC 12“‘Therefore, Kassapa, you should train yourself thus: “Whenever I listen to any Dhamma connected with the wholesome, I will listen to it with eager ears, attending to it as a matter of vital concern, applying my whole mind to it.” Thus should you train yourself.
SC 13“‘Therefore, Kassapa, you should train yourself thus: “I will never relinquish mindfulness directed to the body associated with joy.” Thus should you train yourself.’
SC 14“Then, having given me this exhortation, the Blessed One rose from his seat and departed. sn.ii.221 For seven days, friend, I ate the country’s almsfood as a debtor, but on the eighth day final knowledge arose.
SC 15“Then, friend, the Blessed One descended from the road and went to the foot of a tree. I folded in four my outer robe of patches and said to him: ‘Venerable sir, let the Blessed One sit down here. This will lead to my welfare and happiness for a long time.’ The Blessed One sat down on the appointed seat and said to me: ‘Your outer robe of patches is soft, Kassapa.’–‘Venerable sir, let the Blessed One accept my outer robe of patches, out of compassion.’–‘Then will you wear my worn-out hempen rag-robes? ’–‘I will, venerable sir.’ Thus I offered the Blessed One my outer robe of patches and received from him his worn-out hempen rag-robes.
SC 16“If, friend, one speaking rightly could say of anyone: ‘He is a son of the Blessed One, born of his breast, born of his mouth, born of the Dhamma, created by the Dhamma, an heir to the Dhamma, a receiver of worn-out hempen rag-robes,’ it is of me that one could rightly say this.
SC 17“Friend, to whatever extent I wish, secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, I enter and dwell in the first jhana, which is accompanied by thought and examination, sn.ii.222 with rapture and happiness born of seclusion…. As in §9, down to:
SC 18“Friend, by the destruction of the taints, in this very life I enter and dwell in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, realizing it for myself with direct knowledge.
SC 19“Friend, one might just as well think that a bull elephant seven or seven and a half cubits high could be concealed by a palm leaf as think that my six direct knowledges could be concealed.”
SC 20But the bhikkhunī Thullananda fell away from the holy life.
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Mahākassapa trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veḷuvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
I
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đang đi du hành ở Dakkhiṇāgiri (Nam Sơn), cùng với đại chúng Tỷ-kheo.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ có khoảng ba mươi Tỷ-kheo đệ tử của Tôn giả Ānanda, phần lớn còn trẻ tuổi, từ bỏ sự tu học và hoàn tục.
II
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Ānanda, sau khi du hành ở Nam Sơn, tùy theo ý muốn, rồi đi đến Vương Xá, Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, đi đến Tôn giả Mahākassapa, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahākassapa rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Tôn giả Mahākassapa nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi xuống một bên:
—Duyên bao nhiêu lợi ích, này Hiền giả Ānanda, Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ?
Vi-n 6 —Duyên ba lợi ích, thưa Tôn giả Kassapa, nên Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ, để ngăn chận các người ác giới, vì sự lạc trú của các Tỷ-kheo chánh hạnh, chớ để cho ai dựa vào những ác đảng phá hoại chúng Tăng, và vì lòng từ mẫn đối với các gia đình. Thưa Tôn giả Kassapa, do duyên ba lợi ích này nên Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ.
Vi-n 7 —Vậy thời vì sao, này Hiền giả Ānanda, Hiền giả lại cùng du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác? Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, này Hiền giả Ānanda, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, này Hiền giả, đang tan rã! Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình!
Vi-n 8 —Thưa Tôn giả Kassapa, trên đầu tôi, tóc bạc đã sanh, tuy vậy, hôm nay Tôn giả Mahākassapa gọi tôi là đứa trẻ, tôi không có phật lòng.
Vi-n 9 —Thật vậy, này Hiền giả Ānanda, Hiền giả du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác. Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, này Hiền giả Ānanda, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, này Hiền giả, đang tiêu diệt. Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình.
III
Vi-n 10 Tỷ-kheo-ni Thullatissā được nghe Tôn giả Ānanda, bậc Thánh Vedeha lại bị Tôn giả Mahākassapa không hài lòng và gọi là “đứa trẻ”.
Vi-n 11 Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissā không hoan hỷ và thốt ra những lời không hoan hỷ: “Sao Tôn giả Mahākassapa, trước kia là người theo ngoại đạo, lại nghĩ có thể không hài lòng và gọi Tôn giả Ānanda, bậc Thánh Vedeha là đứa trẻ?”
Vi-n 12 Tôn giả Mahākassapa được nghe những lời của Tỷ-kheo-ni Thullatissā nói như vậy.
Vi-n 13 Rồi Tôn giả Mahākassapa nói với Tôn giả Ānanda:
—Này Hiền giả Ānanda, lời nói của Tỷ-kheo-ni Thullatissā thật là đường đột, không đắn đo suy nghĩ! Này Hiền giả, vì rằng ta là người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ta không chấp nhận một Ðạo Sư nào khác ngoài Thế Tôn, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác.
Vi-n 14 Này Hiền giả, trong khi ta còn là gia chủ, ý nghĩ sau đây được khởi lên: “Chật hẹp thay đời sống tại gia, đầy những bụi đời! Còn xuất gia như đời sống ngoài trời. Thật không dễ dàng ở trong gia đình có thể sống Phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Vi-n 15 Rồi này Hiền giả, sau một thời gian ta lấy vải cắt làm áo Tăng-già-lê, và theo thông lệ các vị Ứng Cúng ở đời, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vi-n 16 Xuất gia như vậy, ta đang đi trên đường, thấy Thế Tôn ngồi tại ngôi đền Bahaputta giữa Rājagaha và Nàlandà. Thấy vậy, ta suy nghĩ như sau: “Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Ðạo Sư, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Thiện Thệ, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Chánh Ðẳng Giác, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn?”
Vi-n 17 Và này Hiền giả, ngay tại chỗ ấy, ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
“—Bạch Thế Tôn, Ðạo Sư của con là Thế Tôn. Con là đệ tử”.
Vi-n 18 Khi nghe nói vậy, này Hiền giả, Thế Tôn nói với ta:
—Này Kassapa, những ai với tâm trọn vẹn đầy đủ, không biết một đệ tử mà nói rằng tôi biết, không thấy mà nói rằng tôi thấy, đầu người ấy sẽ vỡ tan. Còn Ta, này Kassapa, Ta biết thời Ta nói Ta biết, Ta thấy thời Ta nói Ta thấy.
Vi-n 19 Do vậy, này Kassapa, ông phải học tập như sau: 'Một tâm quý thật sắc sảo sẽ phải được thiết lập giữa các vị Trưởng lão, niên thiếu và trung niên'. Này Kassapa, ông phải học tập như vậy.
Vi-n 20 Do vậy, này Kassapa, ông phải học tập như sau: 'Phàm pháp gì tôi nghe, liên hệ đến thiện, sau khi đặc biệt chú ý, tác ý, tập trung tất cả tâm (lực), tất cả pháp ấy tôi đều lóng tai nghe'. Này Kassapa, ông phải học tập như vậy.
Vi-n 21 Do vậy, này Kassapa, ông phải học tập như sau: 'Phàm niệm gì thuộc về thân hành, câu hữu với hỷ, ta sẽ không bỏ niệm ấy'. Này Kassapa, ông phải học tập như vậy”.
Vi-n 22 Rồi này Hiền giả, Thế Tôn sau khi giáo giới ta với lời giáo giới ấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 23 Trong bảy ngày, này Hiền giả, đang còn phiền não, ta ăn món ăn của quốc độ, đến ngày thứ tám, chánh trí khởi lên.
Vi-n 24 Rồi này Hiền giả, Thế Tôn từ trên đường bước xuống và đi đến một gốc cây.
Vi-n 25 Rồi này Hiền giả, ta xấp tư tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt, rồi bạch Thế Tôn:
“—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ngồi xuống ở đây, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài”.
Vi-n 26 Này Hiền giả, Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 27 Sau khi ngồi xuống, này Hiền giả, Thế Tôn nói với ta:
“—Thật là mềm dịu, này Kassapa, là tấm y Tăng-già-lê này làm bằng vải cắt của ông”.
“—Bạch Thế Tôn, mong rằng Thế Tôn nhận lấy tấm y làm bằng vải cắt này từ nơi con, vì lòng từ mẫn đối với con”.
Vi-n 28 “—Này Kassapa, ông có dùng tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Ta không?”.
“—Con sẽ dùng, bạch Thế Tôn, tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Thế Tôn”.
Vi-n 29 Như vậy, này Hiền giả, ta cúng cho Thế Tôn tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt; còn ta thời dùng tấm y phấn tảo của Thế Tôn, làm bằng vải gai thô đáng được quăng bỏ.
Vi-n 30 Và này Hiền giả, nếu ai có nói về ta một cách chơn chánh, thời ta là con ruột Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do pháp sanh, do pháp hóa sanh, thừa tự Chánh pháp và đã nhận được tấm y phấn tảo, làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ.
Vi-n 31 Này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Vi-n 32-46 Và này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta… (chín thứ đệ định và năm thắng trí)…
Vi-n 47 Và này Hiền giả, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Vi-n 48 Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưởi bề cao.
Vi-n 49 Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissā đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākassapo rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā ānando dakkhiṇagirismiṁ cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ.
Tena kho pana samayena āyasmato ānandassa tiṁsamattā saddhivihārino bhikkhū sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattā bhavanti yebhuyyena kumārabhūtā.
Atha kho āyasmā ānando dakkhiṇagirismiṁ yathābhirantaṁ cārikaṁ caritvā yena rājagahaṁ veḷuvanaṁ kalandakanivāpo yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākassapaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ āyasmā mahākassapo etadavoca:
“kati nu kho, āvuso ānanda, atthavase paṭicca bhagavatā kulesu tikabhojanaṁ paññattan”ti?
“Tayo kho, bhante kassapa, atthavase paṭicca bhagavatā kulesu tikabhojanaṁ paññattaṁ—
dummaṅkūnaṁ puggalānaṁ niggahāya pesalānaṁ bhikkhūnaṁ phāsuvihārāya, mā pāpicchā pakkhaṁ nissāya saṅghaṁ bhindeyyuṁ, kulānuddayatāya ca.
Ime kho, bhante kassapa, tayo atthavase paṭicca bhagavatā kulesu tikabhojanaṁ paññattan”ti.
“Atha kiñcarahi tvaṁ, āvuso ānanda, imehi navehi bhikkhūhi indriyesu aguttadvārehi bhojane amattaññūhi jāgariyaṁ ananuyuttehi saddhiṁ cārikaṁ carasi?
Sassaghātaṁ maññe carasi, kulūpaghātaṁ maññe carasi.
Olujjati kho te, āvuso ānanda, parisā;
palujjanti kho te, āvuso, navappāyā.
Na vāyaṁ kumārako mattamaññāsī”ti.
“Api me, bhante kassapa, sirasmiṁ palitāni jātāni.
Atha ca pana mayaṁ ajjāpi āyasmato mahākassapassa kumārakavādā na muccāmā”ti.
“Tathā hi pana tvaṁ, āvuso ānanda, imehi navehi bhikkhūhi indriyesu aguttadvārehi bhojane amattaññūhi jāgariyaṁ ananuyuttehi saddhiṁ cārikaṁ carasi, sassaghātaṁ maññe carasi, kulūpaghātaṁ maññe carasi.
Olujjati kho te, āvuso ānanda, parisā;
palujjanti kho te, āvuso, navappāyā.
Na vāyaṁ kumārako mattamaññāsī”ti.
Assosi kho thullanandā bhikkhunī:
“ayyena kira mahākassapena ayyo ānando vedehamuni kumārakavādena apasādito”ti.
Atha kho thullanandā bhikkhunī anattamanā anattamanavācaṁ nicchāresi:
“kiṁ pana ayyo mahākassapo aññatitthiyapubbo samāno ayyaṁ ānandaṁ vedehamuniṁ kumārakavādena apasādetabbaṁ maññatī”ti.
Assosi kho āyasmā mahākassapo thullanandāya bhikkhuniyā imaṁ vācaṁ bhāsamānāya.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“tagghāvuso ānanda, thullanandāya bhikkhuniyā sahasā appaṭisaṅkhā vācā bhāsitā.
Yatvāhaṁ, āvuso, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, nābhijānāmi aññaṁ satthāraṁ uddisitā, aññatra tena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena.
Pubbe me, āvuso, agārikabhūtassa sato etadahosi:
‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā.
Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, aparena samayena paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ kāretvā ye loke arahanto te uddissa kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁ.
So evaṁ pabbajito samāno addhānamaggappaṭipanno addasaṁ bhagavantaṁ antarā ca rājagahaṁ antarā ca nāḷandaṁ bahuputte cetiye nisinnaṁ.
Disvāna me etadahosi:
‘satthārañca vatāhaṁ passeyyaṁ, bhagavantameva passeyyaṁ;
sugatañca vatāhaṁ passeyyaṁ, bhagavantameva passeyyaṁ;
sammāsambuddhañca vatāhaṁ passeyyaṁ;
bhagavantameva passeyyan’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, tattheva bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocaṁ:
‘satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmi;
satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmī’ti.
Evaṁ vutte, maṁ, āvuso, bhagavā etadavoca:
‘yo kho, kassapa, evaṁ sabbacetasā samannāgataṁ sāvakaṁ ajānaññeva vadeyya jānāmīti, apassaññeva vadeyya passāmīti, muddhāpi tassa vipateyya.
Ahaṁ kho pana, kassapa, jānaññeva vadāmi jānāmīti, passaññeva vadāmi passāmīti.
Tasmātiha te, kassapa, evaṁ sikkhitabbaṁ:
“tibbaṁ me hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ bhavissati theresu navesu majjhimesū”ti.
Evañhi te, kassapa, sikkhitabbaṁ.
Tasmātiha te, kassapa, evaṁ sikkhitabbaṁ:
“yaṁ kiñci dhammaṁ suṇissāmi kusalūpasaṁhitaṁ sabbaṁ taṁ aṭṭhiṁ katvā manasi karitvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasoto dhammaṁ suṇissāmī”ti.
Evañhi te, kassapa, sikkhitabbaṁ.
Tasmātiha te, kassapa, evaṁ sikkhitabbaṁ:
“sātasahagatā ca me kāyagatāsati na vijahissatī”ti.
Evañhi te, kassapa, sikkhitabbanti’.
Atha kho maṁ, āvuso, bhagavā iminā ovādena ovaditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Sattāhameva khvāhaṁ, āvuso, saraṇo raṭṭhapiṇḍaṁ bhuñjiṁ aṭṭhamiyā aññā udapādi.
Atha kho, āvuso, bhagavā maggā okkamma yena aññataraṁ rukkhamūlaṁ tenupasaṅkami.
Atha khvāhaṁ, āvuso, paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ catugguṇaṁ paññapetvā bhagavantaṁ etadavocaṁ:
‘idha, bhante, bhagavā nisīdatu, yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.
Nisīdi kho, āvuso, bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho maṁ, āvuso, bhagavā etadavoca:
‘mudukā kho tyāyaṁ, kassapa, paṭapilotikānaṁ saṅghāṭī’ti.
‘Paṭiggaṇhātu me, bhante, bhagavā paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ anukampaṁ upādāyā’ti.
‘Dhāressasi pana me tvaṁ, kassapa, sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti.
‘Dhāressāmahaṁ, bhante, bhagavato sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ bhagavato pādāsiṁ.
Ahaṁ pana bhagavato sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanāni paṭipajjiṁ.
Yañhi taṁ, āvuso, sammā vadamāno vadeyya:
‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo, paṭiggahitāni sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti, mamaṁ taṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo, paṭiggahitāni sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti.
Ahaṁ kho, āvuso, yāvade ākaṅkhāmi vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Ahaṁ kho, āvuso, yāvade ākaṅkhāmi …pe…
(navannaṁ anupubbavihārasamāpattīnaṁ pañcannañca abhiññānaṁ evaṁ vitthāro veditabbo.)
Ahaṁ kho, āvuso, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmi;
sattaratanaṁ vā, āvuso, nāgaṁ aḍḍhaṭṭhamaratanaṁ vā tālapattikāya chādetabbaṁ maññeyya, yo me cha abhiññā chādetabbaṁ maññeyyā”ti.
Cavittha ca pana thullanandā bhikkhunī brahmacariyamhāti.
Ekādasamaṁ.