Vi-n 1 … Trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm).
Vi-n 2 Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
—Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn đã đi qua, đã vượt qua?
Vi-n 4 —Rất nhiều, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được, là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
Vi-n 5 —Tôn giả Gotama có thể cho một ví dụ được không?
Vi-n 6 —Có thể được, này Bà-la-môn. Ví như, này Bà-la-môn, sông Hằng này từ chỗ nguồn bắt đầu đến chỗ nó chảy nhập vào biển. Số cát nằm ở giữa chặng ấy, thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một số hột cát, là số trăm hột cát, là số ngàn hột cát, là số trăm ngàn hột cát.
Vi-n 7 Nhiều hơn vậy, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì có thể đếm chúng được, là một số kiếp, một trăm kiếp, là một ngàn kiếp, là một số trăm ngàn kiếp.
Vi-n 8 Ví sao? Vô thỉ là luân hồi này, này Bà-la-môn, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Vi-n 9 Cũng vậy, đã lâu ngày, này Bà-la-môn, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên. Cho đến như vậy, này Bà-la-môn, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
Vi-n 10 Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Rājagahe viharati veḷuvane.
Atha kho aññataro brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“kīvabahukā nu kho, bho gotama, kappā abbhatītā atikkantā”ti?
“Bahukā kho, brāhmaṇa, kappā abbhatītā atikkantā.
Te na sukarā saṅkhātuṁ:
‘ettakā kappā iti vā, ettakāni kappasatāni iti vā, ettakāni kappasahassāni iti vā, ettakāni kappasatasahassāni iti vā’”ti.
“Sakkā pana, bho gotama, upamaṁ kātun”ti?
“Sakkā, brāhmaṇā”ti bhagavā avoca.
“Seyyathāpi, brāhmaṇa, yato cāyaṁ gaṅgā nadī pabhavati yattha ca mahāsamuddaṁ appeti, yā etasmiṁ antare vālikā sā na sukarā saṅkhātuṁ:
‘ettakā vālikā iti vā, ettakāni vālikasatāni iti vā, ettakāni vālikasahassāni iti vā, ettakāni vālikasatasahassāni iti vā’ti.
Tato bahutarā kho, brāhmaṇa, kappā abbhatītā atikkantā.
Te na sukarā saṅkhātuṁ:
‘ettakā kappā iti vā, ettakāni kappasatāni iti vā, ettakāni kappasahassāni iti vā, ettakāni kappasatasahassāni iti vā’ti.
Taṁ kissa hetu?
Anamataggoyaṁ, brāhmaṇa, saṁsāro.
Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Evaṁ dīgharattaṁ kho, brāhmaṇa, dukkhaṁ paccanubhūtaṁ tibbaṁ paccanubhūtaṁ byasanaṁ paccanubhūtaṁ, kaṭasī vaḍḍhitā.
Yāvañcidaṁ, brāhmaṇa, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ, alaṁ virajjituṁ, alaṁ vimuccitun”ti.
Evaṁ vutte, so brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Near Rājagaha, in the Bamboo Grove.
Then a certain brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and asked the Buddha,
“Worthy Gotama, how many eons have passed?”
“Brahmin, many eons have passed.
It’s not easy to calculate
how many eons have passed, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of eons.”
“But worthy Gotama, can you give a simile?”
“I can,” said the Buddha.
“Consider the Ganges river from where it originates to where it meets the ocean. Between these places it’s not easy to calculate
how many grains of sand there are, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of grains of sand.
The eons that have passed are more than this.
It’s not easy to calculate
how many eons have passed, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of eons.
Why is that?
This transmigration has no known beginning.
No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.
For such a long time you have undergone suffering, agony, and disaster, swelling the cemeteries.
This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”
When he said this, the brahmin said to the Buddha,
“Excellent, worthy Gotama! Excellent! …
From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 … Trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm).
Vi-n 2 Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
—Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn đã đi qua, đã vượt qua?
Vi-n 4 —Rất nhiều, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được, là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
Vi-n 5 —Tôn giả Gotama có thể cho một ví dụ được không?
Vi-n 6 —Có thể được, này Bà-la-môn. Ví như, này Bà-la-môn, sông Hằng này từ chỗ nguồn bắt đầu đến chỗ nó chảy nhập vào biển. Số cát nằm ở giữa chặng ấy, thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một số hột cát, là số trăm hột cát, là số ngàn hột cát, là số trăm ngàn hột cát.
Vi-n 7 Nhiều hơn vậy, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì có thể đếm chúng được, là một số kiếp, một trăm kiếp, là một ngàn kiếp, là một số trăm ngàn kiếp.
Vi-n 8 Ví sao? Vô thỉ là luân hồi này, này Bà-la-môn, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Vi-n 9 Cũng vậy, đã lâu ngày, này Bà-la-môn, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên. Cho đến như vậy, này Bà-la-môn, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
Vi-n 10 Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Rājagahe viharati veḷuvane.
Atha kho aññataro brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“kīvabahukā nu kho, bho gotama, kappā abbhatītā atikkantā”ti?
“Bahukā kho, brāhmaṇa, kappā abbhatītā atikkantā.
Te na sukarā saṅkhātuṁ:
‘ettakā kappā iti vā, ettakāni kappasatāni iti vā, ettakāni kappasahassāni iti vā, ettakāni kappasatasahassāni iti vā’”ti.
“Sakkā pana, bho gotama, upamaṁ kātun”ti?
“Sakkā, brāhmaṇā”ti bhagavā avoca.
“Seyyathāpi, brāhmaṇa, yato cāyaṁ gaṅgā nadī pabhavati yattha ca mahāsamuddaṁ appeti, yā etasmiṁ antare vālikā sā na sukarā saṅkhātuṁ:
‘ettakā vālikā iti vā, ettakāni vālikasatāni iti vā, ettakāni vālikasahassāni iti vā, ettakāni vālikasatasahassāni iti vā’ti.
Tato bahutarā kho, brāhmaṇa, kappā abbhatītā atikkantā.
Te na sukarā saṅkhātuṁ:
‘ettakā kappā iti vā, ettakāni kappasatāni iti vā, ettakāni kappasahassāni iti vā, ettakāni kappasatasahassāni iti vā’ti.
Taṁ kissa hetu?
Anamataggoyaṁ, brāhmaṇa, saṁsāro.
Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Evaṁ dīgharattaṁ kho, brāhmaṇa, dukkhaṁ paccanubhūtaṁ tibbaṁ paccanubhūtaṁ byasanaṁ paccanubhūtaṁ, kaṭasī vaḍḍhitā.
Yāvañcidaṁ, brāhmaṇa, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ, alaṁ virajjituṁ, alaṁ vimuccitun”ti.
Evaṁ vutte, so brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Aṭṭhamaṁ.