Vi-n 1 Một thời Tôn giả Sāriputta trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi sáng. Đắp y, cầm y bát, đi vào Rājagaha để khất thực. Sau khi đi khất thực từng nhà một ở Rājagaha (Vương Xá), Tôn giả ngồi dựa vào một bức tường, dùng đồ ăn khất thực.
Vi-n 3 Rồi một nữ du sĩ ngoại đạo Sùcimukhi đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói với Tôn giả Sāriputta:
Vi-n 4 —Này Sa-môn, có phải Ông ăn, cúi mặt xuống?
—Này Chị, tôi ăn, không cúi mặt xuống.
Vi-n 5 —Vậy Sa-môn, Ông ăn, ngưỡng mặt lên?
—Này Chị, tôi ăn, không ngưỡng mặt lên.
Vi-n 6 —Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương chính?
—Này Chị, tôi ăn, không có hướng mặt về bốn phương chính.
Vi-n 7 —Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương phụ?
—Này Chị, tôi ăn, không có hướng mặt về bốn phương phụ.
Vi-n 8 —Ðược hỏi: “Này Sa-môn, có phải Ông ăn, cúi mặt xuống?” Ông trả lời: “Này Chị, tôi ăn, không cúi mặt xuống”. Ðược hỏi: “Vậy này Sa-môn, Ông ăn, ngưỡng mặt lên?” Ông đáp: “Này Chị, tôi ăn, không ngưỡng mặt lên”. Ðược hỏi: “Vậy này Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương chính?” Ông đáp: “Này Chị, tôi ăn, không hướng mặt về bốn phương chính”. Ðược hỏi: “Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương phụ?” Ông đáp: “Này Chị, tôi ăn, không hướng mặt về bốn phương phụ”. Vậy này Sa-môn, Ông ăn, hành động như thế nào?
Vi-n 9 —Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như địa lý (nakkhattavijjà) và súc sanh minh (nghề hèn hạ); này Chị, các vị ấy được gọi là các Sa-môn, Bà-la-môn ăn cúi mặt xuống.
Vi-n 10 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như thiên văn (nakkhattavijjà) và súc sanh minh (nghề hèn hạ); này Chị, các vị ấy được gọi là các Sa-môn, Bà-la-môn ăn ngưỡng mặt lên.
Vi-n 11 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như đưa tin tức, làm trung gian môi giới; này Chị, các vị ấy được gọi các Sa-môn, Bà-la-môn ăn hướng mặt về bốn phương chính.
Vi-n 12 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như bói toán, và các nghề hèn hạ; này Chị, các vị ấy được gọi những Sa-môn, Bà-la-môn ăn hướng mặt về bốn phương phụ.
Vi-n 13 Còn ta, này Chị, ta không nuôi sống bằng những tà mạng như địa lý và các nghề hèn hạ; ta không nuôi sống bằng những tà mạng như thiên văn và các nghề hèn hạ; ta không nuôi sống bằng những tà mạng như đưa tin tức, làm trung gian môi giới; ta cũng không nuôi sống bằng những tà mạng như bói toán và các nghề hèn hạ. Ta tìm món ăn một cách hợp pháp. Sau khi tìm món ăn một cách hợp pháp, ta dùng các món ăn ấy.
Vi-n 14 Rồi nữ tu sĩ ngoại đạo Sùcimukhi đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư này qua ngã tư khác ở thành Vương Xá, và tuyên bố: “Sa-môn Thích tử dùng các món ăn một cách hợp pháp. Sa-môn Thích tử dùng các món ăn một cách không có lỗi lầm. Hãy cúng dường các món ăn cho Sa-môn Thích tử”.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahe piṇḍāya pāvisi.
Rājagahe sapadānaṁ piṇḍāya caritvā taṁ piṇḍapātaṁ aññataraṁ kuṭṭamūlaṁ nissāya paribhuñjati.
Atha kho sucimukhī paribbājikā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“Kiṁ nu kho, samaṇa, adhomukho bhuñjasī”ti?
“Na khvāhaṁ, bhagini, adhomukho bhuñjāmī”ti.
“Tena hi, samaṇa, ubbhamukho bhuñjasī”ti?
“Na khvāhaṁ, bhagini, ubbhamukho bhuñjāmī”ti.
“Tena hi, samaṇa, disāmukho bhuñjasī”ti?
“Na khvāhaṁ, bhagini, disāmukho bhuñjāmī”ti.
“Tena hi, samaṇa, vidisāmukho bhuñjasī”ti?
“Na khvāhaṁ, bhagini, vidisāmukho bhuñjāmī”ti.
“‘Kiṁ nu, samaṇa, adhomukho bhuñjasī’ti iti puṭṭho samāno ‘na khvāhaṁ, bhagini, adhomukho bhuñjāmī’ti vadesi.
‘Tena hi, samaṇa, ubbhamukho bhuñjasī’ti iti puṭṭho samāno ‘na khvāhaṁ, bhagini, ubbhamukho bhuñjāmī’ti vadesi.
‘Tena hi, samaṇa, disāmukho bhuñjasī’ti iti puṭṭho samāno ‘na khvāhaṁ, bhagini, disāmukho bhuñjāmī’ti vadesi.
‘Tena hi, samaṇa, vidisāmukho bhuñjasī’ti iti puṭṭho samāno ‘na khvāhaṁ, bhagini, vidisāmukho bhuñjāmī’ti vadesi.
Kathañcarahi, samaṇa, bhuñjasī”ti?
“Ye hi keci, bhagini, samaṇabrāhmaṇā vatthuvijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappenti, ime vuccanti, bhagini, samaṇabrāhmaṇā ‘adhomukhā bhuñjantī’ti.
Ye hi keci, bhagini, samaṇabrāhmaṇā nakkhattavijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappenti, ime vuccanti, bhagini, samaṇabrāhmaṇā ‘ubbhamukhā bhuñjantī’ti.
Ye hi keci, bhagini, samaṇabrāhmaṇā dūteyyapahiṇagamanānuyogāya micchājīvena jīvikaṁ kappenti, ime vuccanti, bhagini, samaṇabrāhmaṇā ‘disāmukhā bhuñjantī’ti.
Ye hi keci, bhagini, samaṇabrāhmaṇā aṅgavijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappenti, ime vuccanti, bhagini, samaṇabrāhmaṇā ‘vidisāmukhā bhuñjantī’ti.
So khvāhaṁ, bhagini, na vatthuvijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappemi, na nakkhattavijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappemi, na dūteyyapahiṇagamanānuyogāya micchājīvena jīvikaṁ kappemi, na aṅgavijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappemi.
Dhammena bhikkhaṁ pariyesāmi;
dhammena bhikkhaṁ pariyesitvā bhuñjāmī”ti.
Atha kho sucimukhī paribbājikā rājagahe rathiyāya rathiyaṁ, siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā evamārocesi:
“dhammikaṁ samaṇā sakyaputtiyā āhāraṁ āhārenti;
anavajjaṁ samaṇā sakyaputtiyā āhāraṁ āhārenti.
Detha samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ piṇḍan”ti.
Dasamaṁ.
Sāriputtavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Vivekajaṁ avitakkaṁ,
pīti upekkhā catutthakaṁ;
Ākāsañceva viññāṇaṁ,
ākiñcaṁ nevasaññinā;
Nirodho navamo vutto,
dasamaṁ sūcimukhī cāti.
Sāriputtasaṁyuttaṁ samattaṁ.
At one time Venerable Sāriputta was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Then he robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms.
After wandering indiscriminately for almsfood in Rājagaha, he ate his almsfood by a wall.
Then the wanderer Sucimukhī went up to Venerable Sāriputta and said to him:
“Ascetic, do you eat facing downwards?”
“No, sister.”
“Well then, do you eat facing upwards?”
“No, sister.”
“Well then, do you eat facing the cardinal directions?”
“No, sister.”
“Well then, do you eat facing the intermediate directions?”
“No, sister.”
“When asked if you eat facing all these directions, you answer ‘no, sister’.
How then do you eat, ascetic?”
“Sister, those ascetics and brahmins who earn a living by geomancy—a low lore, a wrong livelihood—are said to eat facing downwards.
Those ascetics and brahmins who earn a living by astrology—a low lore, a wrong livelihood—are said to eat facing upwards.
Those ascetics and brahmins who earn a living by running errands and messages—a wrong livelihood—are said to eat facing the cardinal directions.
Those ascetics and brahmins who earn a living by limb-reading—a low lore, a wrong livelihood—are said to eat facing the intermediate directions.
I don’t earn a living by any of these means.
I seek alms in a principled manner,
and I eat it in a principled manner.”
Then Sucimukhī the wanderer went around Rājagaha from street to street and from square to square, and announced:
“The ascetics who follow the Sakyan eat food in a principled manner!
The ascetics who follow the Sakyan eat food blamelessly!
Give almsfood to the ascetics who follow the Sakyan!”
The Linked Discourses on Sāriputta are complete.
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Sāriputta trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi sáng. Đắp y, cầm y bát, đi vào Rājagaha để khất thực. Sau khi đi khất thực từng nhà một ở Rājagaha (Vương Xá), Tôn giả ngồi dựa vào một bức tường, dùng đồ ăn khất thực.
Vi-n 3 Rồi một nữ du sĩ ngoại đạo Sùcimukhi đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói với Tôn giả Sāriputta:
Vi-n 4 —Này Sa-môn, có phải Ông ăn, cúi mặt xuống?
—Này Chị, tôi ăn, không cúi mặt xuống.
Vi-n 5 —Vậy Sa-môn, Ông ăn, ngưỡng mặt lên?
—Này Chị, tôi ăn, không ngưỡng mặt lên.
Vi-n 6 —Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương chính?
—Này Chị, tôi ăn, không có hướng mặt về bốn phương chính.
Vi-n 7 —Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương phụ?
—Này Chị, tôi ăn, không có hướng mặt về bốn phương phụ.
Vi-n 8 —Ðược hỏi: “Này Sa-môn, có phải Ông ăn, cúi mặt xuống?” Ông trả lời: “Này Chị, tôi ăn, không cúi mặt xuống”. Ðược hỏi: “Vậy này Sa-môn, Ông ăn, ngưỡng mặt lên?” Ông đáp: “Này Chị, tôi ăn, không ngưỡng mặt lên”. Ðược hỏi: “Vậy này Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương chính?” Ông đáp: “Này Chị, tôi ăn, không hướng mặt về bốn phương chính”. Ðược hỏi: “Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương phụ?” Ông đáp: “Này Chị, tôi ăn, không hướng mặt về bốn phương phụ”. Vậy này Sa-môn, Ông ăn, hành động như thế nào?
Vi-n 9 —Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như địa lý (nakkhattavijjà) và súc sanh minh (nghề hèn hạ); này Chị, các vị ấy được gọi là các Sa-môn, Bà-la-môn ăn cúi mặt xuống.
Vi-n 10 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như thiên văn (nakkhattavijjà) và súc sanh minh (nghề hèn hạ); này Chị, các vị ấy được gọi là các Sa-môn, Bà-la-môn ăn ngưỡng mặt lên.
Vi-n 11 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như đưa tin tức, làm trung gian môi giới; này Chị, các vị ấy được gọi các Sa-môn, Bà-la-môn ăn hướng mặt về bốn phương chính.
Vi-n 12 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như bói toán, và các nghề hèn hạ; này Chị, các vị ấy được gọi những Sa-môn, Bà-la-môn ăn hướng mặt về bốn phương phụ.
Vi-n 13 Còn ta, này Chị, ta không nuôi sống bằng những tà mạng như địa lý và các nghề hèn hạ; ta không nuôi sống bằng những tà mạng như thiên văn và các nghề hèn hạ; ta không nuôi sống bằng những tà mạng như đưa tin tức, làm trung gian môi giới; ta cũng không nuôi sống bằng những tà mạng như bói toán và các nghề hèn hạ. Ta tìm món ăn một cách hợp pháp. Sau khi tìm món ăn một cách hợp pháp, ta dùng các món ăn ấy.
Vi-n 14 Rồi nữ tu sĩ ngoại đạo Sùcimukhi đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư này qua ngã tư khác ở thành Vương Xá, và tuyên bố: “Sa-môn Thích tử dùng các món ăn một cách hợp pháp. Sa-môn Thích tử dùng các món ăn một cách không có lỗi lầm. Hãy cúng dường các món ăn cho Sa-môn Thích tử”.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahe piṇḍāya pāvisi.
Rājagahe sapadānaṁ piṇḍāya caritvā taṁ piṇḍapātaṁ aññataraṁ kuṭṭamūlaṁ nissāya paribhuñjati.
Atha kho sucimukhī paribbājikā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“Kiṁ nu kho, samaṇa, adhomukho bhuñjasī”ti?
“Na khvāhaṁ, bhagini, adhomukho bhuñjāmī”ti.
“Tena hi, samaṇa, ubbhamukho bhuñjasī”ti?
“Na khvāhaṁ, bhagini, ubbhamukho bhuñjāmī”ti.
“Tena hi, samaṇa, disāmukho bhuñjasī”ti?
“Na khvāhaṁ, bhagini, disāmukho bhuñjāmī”ti.
“Tena hi, samaṇa, vidisāmukho bhuñjasī”ti?
“Na khvāhaṁ, bhagini, vidisāmukho bhuñjāmī”ti.
“‘Kiṁ nu, samaṇa, adhomukho bhuñjasī’ti iti puṭṭho samāno ‘na khvāhaṁ, bhagini, adhomukho bhuñjāmī’ti vadesi.
‘Tena hi, samaṇa, ubbhamukho bhuñjasī’ti iti puṭṭho samāno ‘na khvāhaṁ, bhagini, ubbhamukho bhuñjāmī’ti vadesi.
‘Tena hi, samaṇa, disāmukho bhuñjasī’ti iti puṭṭho samāno ‘na khvāhaṁ, bhagini, disāmukho bhuñjāmī’ti vadesi.
‘Tena hi, samaṇa, vidisāmukho bhuñjasī’ti iti puṭṭho samāno ‘na khvāhaṁ, bhagini, vidisāmukho bhuñjāmī’ti vadesi.
Kathañcarahi, samaṇa, bhuñjasī”ti?
“Ye hi keci, bhagini, samaṇabrāhmaṇā vatthuvijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappenti, ime vuccanti, bhagini, samaṇabrāhmaṇā ‘adhomukhā bhuñjantī’ti.
Ye hi keci, bhagini, samaṇabrāhmaṇā nakkhattavijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappenti, ime vuccanti, bhagini, samaṇabrāhmaṇā ‘ubbhamukhā bhuñjantī’ti.
Ye hi keci, bhagini, samaṇabrāhmaṇā dūteyyapahiṇagamanānuyogāya micchājīvena jīvikaṁ kappenti, ime vuccanti, bhagini, samaṇabrāhmaṇā ‘disāmukhā bhuñjantī’ti.
Ye hi keci, bhagini, samaṇabrāhmaṇā aṅgavijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappenti, ime vuccanti, bhagini, samaṇabrāhmaṇā ‘vidisāmukhā bhuñjantī’ti.
So khvāhaṁ, bhagini, na vatthuvijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappemi, na nakkhattavijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappemi, na dūteyyapahiṇagamanānuyogāya micchājīvena jīvikaṁ kappemi, na aṅgavijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṁ kappemi.
Dhammena bhikkhaṁ pariyesāmi;
dhammena bhikkhaṁ pariyesitvā bhuñjāmī”ti.
Atha kho sucimukhī paribbājikā rājagahe rathiyāya rathiyaṁ, siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā evamārocesi:
“dhammikaṁ samaṇā sakyaputtiyā āhāraṁ āhārenti;
anavajjaṁ samaṇā sakyaputtiyā āhāraṁ āhārenti.
Detha samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ piṇḍan”ti.
Dasamaṁ.
Sāriputtavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Vivekajaṁ avitakkaṁ,
pīti upekkhā catutthakaṁ;
Ākāsañceva viññāṇaṁ,
ākiñcaṁ nevasaññinā;
Nirodho navamo vutto,
dasamaṁ sūcimukhī cāti.
Sāriputtasaṁyuttaṁ samattaṁ.