Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Rādha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:
: “Māra, Māra”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Māra?
Vi-n 4 —Nếu có sắc, này Rādha, thời có chết (Māra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Rādha, Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.
Vi-n 5-7. … Thọ … tưởng … các hành …
Vi-n 8 Nếu có thức, này Rādha, thời có chết, hay có sát giả, hay có bị chết. Do vậy, này Rādha, Ông hãy thấy thức là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh hoạn, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy thức như vậy là thấy chơn chánh.
Vi-n 9 —Bạch Thế Tôn, chánh quán với mục đích gì?
—Chánh quán, này Rādha, với mục đích nhàm chán.
Vi-n 10 —Bạch Thế Tôn, nhàm chán với mục đích gì?
—Nhàm chán, này Rādha, với mục đích ly tham.
Vi-n 11 —Bạch Thế Tôn, ly tham với mục đích gì?
—Ly tham, này Rādha, với mục đích được giải thoát.
Vi-n 12 —Bạch Thế Tôn, giải thoát với mục đích gì?
—Giải thoát, này Rādha, với mục đích Niết-bàn.
Vi-n 13 —Bạch Thế Tôn, Niết-bàn với mục đích gì?
—Này Rādha, Ông đi quá xa với câu hỏi này, không thế nắm được giới hạn của câu hỏi. Nhập vào Niết-bàn, này Rādha, là sự thực hành Phạm hạnh; Niết-bàn là mục tiêu cuối cùng; Niết-bàn là cứu cánh.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā rādho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṁ etadavoca:
“‘Māro, māro’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, māro”ti?
“Rūpe kho, rādha, sati māro vā assa māretā vā yo vā pana mīyati.
Tasmātiha tvaṁ, rādha, rūpaṁ māroti passa, māretāti passa, mīyatīti passa, rogoti passa, gaṇḍoti passa, sallanti passa, aghanti passa, aghabhūtanti passa.
Ye naṁ evaṁ passanti te sammā passanti.
Vedanāya sati …
saññāya sati …
saṅkhāresu sati …
viññāṇe sati māro vā assa māretā vā yo vā pana mīyati.
Tasmātiha tvaṁ, rādha, viññāṇaṁ māroti passa, māretāti passa, mīyatīti passa, rogoti passa, gaṇḍoti passa, sallanti passa, aghanti passa, aghabhūtanti passa.
Ye naṁ evaṁ passanti, te sammā passantī”ti.
“Sammādassanaṁ pana, bhante, kimatthiyan”ti?
“Sammādassanaṁ kho, rādha, nibbidatthaṁ”.
“Nibbidā pana, bhante, kimatthiyā”ti?
“Nibbidā kho, rādha, virāgatthā”.
“Virāgo pana, bhante, kimatthiyo”ti?
“Virāgo kho, rādha, vimuttattho”.
“Vimutti pana, bhante, kimatthiyā”ti?
“Vimutti kho, rādha, nibbānatthā”.
“Nibbānaṁ pana, bhante, kimatthiyan”ti?
“Accayāsi, rādha, pañhaṁ, nāsakkhi pañhassa pariyantaṁ gahetuṁ.
Nibbānogadhañhi, rādha, brahmacariyaṁ vussati, nibbānaparāyanaṁ nibbānapariyosānan”ti.
Paṭhamaṁ.
At Sāvatthī.
Then Venerable Rādha went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, they speak of this thing called ‘Māra’.
How is Māra defined?”
“When there is form, Rādha, there would be Māra, or the murderer, or the murdered.
So you should see form as Māra, the murderer, the murdered, the diseased, the boil, the dart, the gloom, the gloominess.
Those who see it like this see rightly.
When there is feeling …
perception …
choices …
consciousness, there may be Māra, or the murderer, or the murdered.
So you should see consciousness as Māra, the murderer, the murdered, the diseased, the boil, the dart, the gloom, the gloominess.
Those who see it like this see rightly.”
“But sir, what’s the purpose of seeing rightly?”
“Disillusionment is the purpose of seeing rightly.”
“But what’s the purpose of disillusionment?”
“Dispassion is the purpose of disillusionment.”
“But what’s the purpose of dispassion?”
“Freedom is the purpose of dispassion.”
“But what’s the purpose of freedom?”
“Extinguishment is the purpose of freedom.”
“But sir, what is the purpose of extinguishment?”
“Your question goes too far, Rādha. You couldn’t figure out the limit of questions.
For extinguishment is the objective, destination, and culmination of the spiritual life.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Rādha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:
: “Māra, Māra”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Māra?
Vi-n 4 —Nếu có sắc, này Rādha, thời có chết (Māra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Rādha, Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.
Vi-n 5-7. … Thọ … tưởng … các hành …
Vi-n 8 Nếu có thức, này Rādha, thời có chết, hay có sát giả, hay có bị chết. Do vậy, này Rādha, Ông hãy thấy thức là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh hoạn, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy thức như vậy là thấy chơn chánh.
Vi-n 9 —Bạch Thế Tôn, chánh quán với mục đích gì?
—Chánh quán, này Rādha, với mục đích nhàm chán.
Vi-n 10 —Bạch Thế Tôn, nhàm chán với mục đích gì?
—Nhàm chán, này Rādha, với mục đích ly tham.
Vi-n 11 —Bạch Thế Tôn, ly tham với mục đích gì?
—Ly tham, này Rādha, với mục đích được giải thoát.
Vi-n 12 —Bạch Thế Tôn, giải thoát với mục đích gì?
—Giải thoát, này Rādha, với mục đích Niết-bàn.
Vi-n 13 —Bạch Thế Tôn, Niết-bàn với mục đích gì?
—Này Rādha, Ông đi quá xa với câu hỏi này, không thế nắm được giới hạn của câu hỏi. Nhập vào Niết-bàn, này Rādha, là sự thực hành Phạm hạnh; Niết-bàn là mục tiêu cuối cùng; Niết-bàn là cứu cánh.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā rādho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṁ etadavoca:
“‘Māro, māro’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, māro”ti?
“Rūpe kho, rādha, sati māro vā assa māretā vā yo vā pana mīyati.
Tasmātiha tvaṁ, rādha, rūpaṁ māroti passa, māretāti passa, mīyatīti passa, rogoti passa, gaṇḍoti passa, sallanti passa, aghanti passa, aghabhūtanti passa.
Ye naṁ evaṁ passanti te sammā passanti.
Vedanāya sati …
saññāya sati …
saṅkhāresu sati …
viññāṇe sati māro vā assa māretā vā yo vā pana mīyati.
Tasmātiha tvaṁ, rādha, viññāṇaṁ māroti passa, māretāti passa, mīyatīti passa, rogoti passa, gaṇḍoti passa, sallanti passa, aghanti passa, aghabhūtanti passa.
Ye naṁ evaṁ passanti, te sammā passantī”ti.
“Sammādassanaṁ pana, bhante, kimatthiyan”ti?
“Sammādassanaṁ kho, rādha, nibbidatthaṁ”.
“Nibbidā pana, bhante, kimatthiyā”ti?
“Nibbidā kho, rādha, virāgatthā”.
“Virāgo pana, bhante, kimatthiyo”ti?
“Virāgo kho, rādha, vimuttattho”.
“Vimutti pana, bhante, kimatthiyā”ti?
“Vimutti kho, rādha, nibbānatthā”.
“Nibbānaṁ pana, bhante, kimatthiyan”ti?
“Accayāsi, rādha, pañhaṁ, nāsakkhi pañhassa pariyantaṁ gahetuṁ.
Nibbānogadhañhi, rādha, brahmacariyaṁ vussati, nibbānaparāyanaṁ nibbānapariyosānan”ti.
Paṭhamaṁ.