Vi-n 1 Một thời…, …
Vi-n 2 Tôn giả Vangìsa trú ở Āḷavi, tại ngôi đền ở Aggàvi cùng với giáo thọ sư Tôn giả Nigrodha Kappa.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, Tôn giả Nigrodha Kappa sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá và không ra khỏi tịnh xá cho đến chiều hay ngày mai.
Vi-n 4 Lúc bấy giờ Tôn giả Vangìsa tâm sanh bất mãn, bị lòng dục quấy phá.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Thật bất lợi cho ta! Thật bất lợi cho ta! Thật không lợi cho ta! Thật bất hạnh cho ta! Thật không may cho ta! Vì rằng tâm sanh bất mãn nơi ta, và ta bị lòng dục quấy phá. Làm thế nào ngay hiện tại có người khác có thể đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm khởi lên thỏa mãn cho ta? Hay là ta tự mình đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm cho thỏa mãn khởi lên cho ta?”
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Vangìsa sau khi tự mình đoạn trừ bất mãn và làm thỏa mãn khởi lên, liền ngay trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
Ta bỏ lạc, bất lạc,
Mọi tâm tư gia sự,
Không tạo một chỗ nào,
Thành cơ sở tham dục.
Ai thoát khỏi rừng tham,
Thoát ly mọi tham dục,
Ly tham không đắm trước,
Xứng danh chơn Tỷ-kheo.
Phàm địa giới, không giới,
Cả sắc giới trong đời,
Mọi vật đều biến hoại,
Mọi sự đều vô thường.
Ai hiểu biết như vậy,
Sở hành sẽ chân chính.
Chúng sanh thường chấp trước,
Ðối với các sanh y,
Ðối vật họ thấy, nghe
Họ ngửi, nếm, xúc chạm.
Ở đây, ai đoạn dục,
Tâm tư không nhiễm ô,
Không mắc dính chỗ này,
Vị ấy danh Mâu-ni.
Ðối với sáu mươi pháp,
Thuộc vọng tưởng phi pháp,
Phàm phu thường chấp trước,
Chấp thủ và tham đắm.
Tỷ-kheo không phiền não,
Không nói lời ác ngữ,
Sáng suốt, tâm thường định,
Không dối trá, thận trọng,
Thoát ly mọi tham ái.
Vị Mâu-ni chứng đạt,
Cảnh Niết-bàn tịch tịnh,
Chờ đón thời mệnh chung,
Với tâm tư vắng lặng,
Thanh thoát nhập Niết-bàn.
Ekaṁ samayaṁ …pe… āyasmā vaṅgīso āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye āyasmatā nigrodhakappena upajjhāyena saddhiṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā nigrodhakappo pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto vihāraṁ pavisati, sāyaṁ vā nikkhamati aparajju vā kāle.
Tena kho pana samayena āyasmato vaṅgīsassa anabhirati uppannā hoti, rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi:
“alābhā vata me, na vata me lābhā; dulladdhaṁ vata me, na vata me suladdhaṁ;
yassa me anabhirati uppannā, rāgo cittaṁ anuddhaṁseti; taṁ kutettha labbhā, yaṁ me paro anabhiratiṁ vinodetvā abhiratiṁ uppādeyya.
Yannūnāhaṁ attanāva attano anabhiratiṁ vinodetvā abhiratiṁ uppādeyyan”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso attanāva attano anabhiratiṁ vinodetvā abhiratiṁ uppādetvā tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
“Aratiñca ratiñca pahāya,
Sabbaso gehasitañca vitakkaṁ;
Vanathaṁ na kareyya kuhiñci,
Nibbanatho arato sa hi bhikkhu.
Yamidha pathaviñca vehāsaṁ,
Rūpagatañca jagatogadhaṁ;
Kiñci parijīyati sabbamaniccaṁ,
Evaṁ samecca caranti mutattā.
Upadhīsu janā gadhitāse,
Diṭṭhasute paṭighe ca mute ca;
Ettha vinodaya chandamanejo,
Yo ettha na limpati taṁ munimāhu.
Atha saṭṭhinissitā savitakkā,
Puthū janatāya adhammā niviṭṭhā;
Na ca vaggagatassa kuhiñci,
No pana duṭṭhullabhāṇī sa bhikkhu.
Dabbo cirarattasamāhito,
Akuhako nipako apihālu;
Santaṁ padaṁ ajjhagamā muni paṭicca,
Parinibbuto kaṅkhati kālan”ti.
At one time Venerable Vaṅgīsa was staying near Āḷavī, at Āḷavī’s premier shrine, together with his mentor, Venerable Nigrodhakappa.
Now at that time after Venerable Nigrodhakappa had finished his meal, on his return from almsround, he would enter his dwelling and not emerge for the rest of that day, or the next.
And at that time Venerable Vaṅgīsa became dissatisfied, as lust infected his mind.
Then he thought,
“It’s my loss, my misfortune,
that I’ve become dissatisfied, with lust infecting my mind. How is it possible for someone else to dispel my discontent and give rise to satisfaction?
Why don’t I do it myself?”
Then, on the occasion of dispelling his own discontent and giving rise to satisfaction, he recited these verses:
“Giving up desire and discontent,
along with all thoughts of domestic life,
they wouldn’t get snarled in anything;
unsnarled, undesiring: that’s a real mendicant.
Whatever here is included in form—
on earth, in the sky, or in planet’s deep—
wears out, it is all impermanent:
the self-examined live having comprehended this.
People are bound to their attachments,
to impingement of the seen and heard, and to what is thought.
Unstirred, dispel desire for these things;
for one called ‘a sage’ does not cling to them.
Trapped in the sixty wrong views, full of their own opinions,
ordinary people are fixed in wrong principles.
But that mendicant wouldn’t join a sect,
still less would they utter lewd speech.
Clever, serene for a long time,
free of deceit, alert, without envy,
the sage has reached the state of peace;
quenched, he awaits his time.”
Vi-n 1 Một thời…, …
Vi-n 2 Tôn giả Vangìsa trú ở Āḷavi, tại ngôi đền ở Aggàvi cùng với giáo thọ sư Tôn giả Nigrodha Kappa.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, Tôn giả Nigrodha Kappa sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá và không ra khỏi tịnh xá cho đến chiều hay ngày mai.
Vi-n 4 Lúc bấy giờ Tôn giả Vangìsa tâm sanh bất mãn, bị lòng dục quấy phá.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Thật bất lợi cho ta! Thật bất lợi cho ta! Thật không lợi cho ta! Thật bất hạnh cho ta! Thật không may cho ta! Vì rằng tâm sanh bất mãn nơi ta, và ta bị lòng dục quấy phá. Làm thế nào ngay hiện tại có người khác có thể đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm khởi lên thỏa mãn cho ta? Hay là ta tự mình đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm cho thỏa mãn khởi lên cho ta?”
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Vangìsa sau khi tự mình đoạn trừ bất mãn và làm thỏa mãn khởi lên, liền ngay trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
Ta bỏ lạc, bất lạc,
Mọi tâm tư gia sự,
Không tạo một chỗ nào,
Thành cơ sở tham dục.
Ai thoát khỏi rừng tham,
Thoát ly mọi tham dục,
Ly tham không đắm trước,
Xứng danh chơn Tỷ-kheo.
Phàm địa giới, không giới,
Cả sắc giới trong đời,
Mọi vật đều biến hoại,
Mọi sự đều vô thường.
Ai hiểu biết như vậy,
Sở hành sẽ chân chính.
Chúng sanh thường chấp trước,
Ðối với các sanh y,
Ðối vật họ thấy, nghe
Họ ngửi, nếm, xúc chạm.
Ở đây, ai đoạn dục,
Tâm tư không nhiễm ô,
Không mắc dính chỗ này,
Vị ấy danh Mâu-ni.
Ðối với sáu mươi pháp,
Thuộc vọng tưởng phi pháp,
Phàm phu thường chấp trước,
Chấp thủ và tham đắm.
Tỷ-kheo không phiền não,
Không nói lời ác ngữ,
Sáng suốt, tâm thường định,
Không dối trá, thận trọng,
Thoát ly mọi tham ái.
Vị Mâu-ni chứng đạt,
Cảnh Niết-bàn tịch tịnh,
Chờ đón thời mệnh chung,
Với tâm tư vắng lặng,
Thanh thoát nhập Niết-bàn.
Ekaṁ samayaṁ …pe… āyasmā vaṅgīso āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye āyasmatā nigrodhakappena upajjhāyena saddhiṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā nigrodhakappo pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto vihāraṁ pavisati, sāyaṁ vā nikkhamati aparajju vā kāle.
Tena kho pana samayena āyasmato vaṅgīsassa anabhirati uppannā hoti, rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi:
“alābhā vata me, na vata me lābhā; dulladdhaṁ vata me, na vata me suladdhaṁ;
yassa me anabhirati uppannā, rāgo cittaṁ anuddhaṁseti; taṁ kutettha labbhā, yaṁ me paro anabhiratiṁ vinodetvā abhiratiṁ uppādeyya.
Yannūnāhaṁ attanāva attano anabhiratiṁ vinodetvā abhiratiṁ uppādeyyan”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso attanāva attano anabhiratiṁ vinodetvā abhiratiṁ uppādetvā tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
“Aratiñca ratiñca pahāya,
Sabbaso gehasitañca vitakkaṁ;
Vanathaṁ na kareyya kuhiñci,
Nibbanatho arato sa hi bhikkhu.
Yamidha pathaviñca vehāsaṁ,
Rūpagatañca jagatogadhaṁ;
Kiñci parijīyati sabbamaniccaṁ,
Evaṁ samecca caranti mutattā.
Upadhīsu janā gadhitāse,
Diṭṭhasute paṭighe ca mute ca;
Ettha vinodaya chandamanejo,
Yo ettha na limpati taṁ munimāhu.
Atha saṭṭhinissitā savitakkā,
Puthū janatāya adhammā niviṭṭhā;
Na ca vaggagatassa kuhiñci,
No pana duṭṭhullabhāṇī sa bhikkhu.
Dabbo cirarattasamāhito,
Akuhako nipako apihālu;
Santaṁ padaṁ ajjhagamā muni paṭicca,
Parinibbuto kaṅkhati kālan”ti.