Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 3 Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Vì xan tham, phóng dật,
Như vậy không bố thí,
Ai ước mong công đức,
Có trí nên bố thí.
Vi-n 4 Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðiều kẻ xan tham sợ,
Nên không dám bố thí,
Sợ ấy đến với họ,
Chính vì không bố thí.
Ðiều kẻ xan tham sợ,
Chính là đói và khát,
Kẻ ngu phải cảm thọ,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy chế xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vững an trú,
Công đức trong đời sau.
Vi-n 5 Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Không chết giữa người chết,
Như thiện hữu trên đường,
San sẻ lương thực hiếm,
Thường pháp là như vậy.
Kẻ ít, vui san sẻ,
Kẻ nhiều khó, đem cho,
Bố thí từ kẻ khó,
Ðong được ngàn đồng vàng.
Vi-n 6 Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Khó thay sự đem cho,
Khó thay làm hạnh ấy.
Kẻ ác khó tùy thuận,
Khó thay pháp bậc lành.
Do vậy kẻ hiền, ác,
Sanh thú phải sai khác,
Kẻ ác sanh địa ngục,
Người lành lên cõi trời.
Vi-n 7 Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, vị nào đã nói một cách tốt đẹp?
—Về vấn đề này, tất cả các Ông đã nói một cách tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe Ta:
Sở hành vẫn chơn chánh,
Dầu phải sống vụn vặt,
Dầu phải nuôi vợ con,
Với đồ ăn lượm lặt,
Nhưng vẫn bố thí được,
Từ vật chứa ít ỏi,
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.
Vi-n 8 Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Vì sao họ bố thí,
Rộng lớn nhiều như vậy,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí?
Sao ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy?
Vi-n 9 Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ này với vị Thiên ấy:
Có những người bố thí,
Một cách bất bình thường,
Sau khi chém và giết,
Mới làm vơi nỗi sầu.
Sự bố thí như vậy,
Ðầy nước mắt đánh đập,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí.
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
Ekamantaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Maccherā ca pamādā ca,
evaṁ dānaṁ na dīyati;
Puññaṁ ākaṅkhamānena,
deyyaṁ hoti vijānatā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Yasseva bhīto na dadāti maccharī,
Tadevādadato bhayaṁ;
Jighacchā ca pipāsā ca,
Yassa bhāyati maccharī;
Tameva bālaṁ phusati,
Asmiṁ loke paramhi ca.
Tasmā vineyya maccheraṁ,
dajjā dānaṁ malābhibhū;
Puññāni paralokasmiṁ,
patiṭṭhā honti pāṇinan”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Te matesu na mīyanti,
panthānaṁva sahabbajaṁ;
Appasmiṁ ye pavecchanti,
esa dhammo sanantano.
Appasmeke pavecchanti,
bahuneke na dicchare;
Appasmā dakkhiṇā dinnā,
sahassena samaṁ mitā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Duddadaṁ dadamānānaṁ,
dukkaraṁ kamma kubbataṁ;
Asanto nānukubbanti,
sataṁ dhammo duranvayo.
Tasmā satañca asataṁ,
nānā hoti ito gati;
Asanto nirayaṁ yanti,
santo saggaparāyanā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike etadavoca:
“kassa nu kho, bhagavā, subhāsitan”ti?
“Sabbāsaṁ vo subhāsitaṁ pariyāyena; api ca mamapi suṇātha—
Dhammaṁ care yopi samuñjakaṁ care,
Dārañca posaṁ dadamappakasmiṁ;
Sataṁ sahassānaṁ sahassayāginaṁ,
Kalampi nāgghanti tathāvidhassa te”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Kenesa yañño vipulo mahaggato,
Samena dinnassa na agghameti;
Kathaṁ sataṁ sahassānaṁ sahassayāginaṁ,
Kalampi nāgghanti tathāvidhassa te”ti.
“Dadanti heke visame niviṭṭhā,
Chetvā vadhitvā atha socayitvā;
Sā dakkhiṇā assumukhā sadaṇḍā,
Samena dinnassa na agghameti.
Evaṁ sataṁ sahassānaṁ sahassayāginaṁ,
Kalampi nāgghanti tathāvidhassa te”ti.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. Then, when the night had advanced, a number of devatās belonging to the Satullapa host, of stunning beauty, illuminating the entire Jeta’ s Grove, approached the Blessed One. Having approached, they paid homage to the Blessed One and stood to one side.
SC 2Then one devatā, standing to one side, recited this verse in the presence of the Blessed One:
SC 3 “Through stinginess and negligence
A gift is not given.
One who knows, desiring merit,
Should surely give a gift.”
SC 4Then another devatā recited these verses in the presence of the Blessed One:
SC 5 “That which the miser fears when he does not give
Is the very danger that comes to the nongiver.
The hunger and thirst that the miser fears
Afflict that fool in this world and the next.
SC 6 “Therefore, having removed stinginess,
The conqueror of the stain should give a gift.
Deeds of merit are the support for living beings
When they arise in the other world.”
SC 7Then another devatā recited these verses in the presence of the Blessed One:
SC 8 “They do not die among the dead
Who, like fellow travellers on the road,
Provide though they have but a little:
This is an ancient principle.
SC 9 “Some provide from the little they have,
Others who are affluent don’t like to give.
An offering given from what little one has
Is worth a thousand times its value.” sn.i.19
SC 10Then another devatā recited these verses in the presence of the Blessed One:
SC 11 “The bad do not emulate the good,
Who give what is hard to give
And do deeds hard to do:
The Dhamma of the good is hard to follow.
SC 12 “Therefore their destination after death
Differs for the good and the bad:
The bad go to hell,
The good are bound for heaven.”
SC 13Then another devatā said to the Blessed One: “Which one, Blessed One, has spoken well?”
SC 14“You have all spoken well in a way. But listen to me too:
SC 15 “If one practises the Dhamma
Though getting on by gleaning,
If while one supports one’s wife
One gives from the little one has,
Then a hundred thousand offerings
Of those who sacrifice a thousand
Are not worth even a fraction
Of the gift of one like him.”
SC 16Then another devatā addressed the Blessed One in verse:
SC 17 “Why does their sacrifice, vast and grand,
Not share the value of the righteous one’s gift?
Why are a hundred thousand offerings
Of those who sacrifice a thousand
Not worth even a fraction
Of the gift of one like him?”
SC 18Then the Blessed One answered that devatā in verse:
SC 19 “Since they give while settled in unrighteousness,
Having slain and killed, causing sorrow,
Their offering—tearful, fraught with violence—
Shares not the value of the righteous one’s gift.
That is why a hundred thousand offerings
Of those who sacrifice a thousand
Are not worth even a fraction
Of the gift of one like him.” sn.i.20
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 3 Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Vì xan tham, phóng dật,
Như vậy không bố thí,
Ai ước mong công đức,
Có trí nên bố thí.
Vi-n 4 Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðiều kẻ xan tham sợ,
Nên không dám bố thí,
Sợ ấy đến với họ,
Chính vì không bố thí.
Ðiều kẻ xan tham sợ,
Chính là đói và khát,
Kẻ ngu phải cảm thọ,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy chế xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vững an trú,
Công đức trong đời sau.
Vi-n 5 Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Không chết giữa người chết,
Như thiện hữu trên đường,
San sẻ lương thực hiếm,
Thường pháp là như vậy.
Kẻ ít, vui san sẻ,
Kẻ nhiều khó, đem cho,
Bố thí từ kẻ khó,
Ðong được ngàn đồng vàng.
Vi-n 6 Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Khó thay sự đem cho,
Khó thay làm hạnh ấy.
Kẻ ác khó tùy thuận,
Khó thay pháp bậc lành.
Do vậy kẻ hiền, ác,
Sanh thú phải sai khác,
Kẻ ác sanh địa ngục,
Người lành lên cõi trời.
Vi-n 7 Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, vị nào đã nói một cách tốt đẹp?
—Về vấn đề này, tất cả các Ông đã nói một cách tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe Ta:
Sở hành vẫn chơn chánh,
Dầu phải sống vụn vặt,
Dầu phải nuôi vợ con,
Với đồ ăn lượm lặt,
Nhưng vẫn bố thí được,
Từ vật chứa ít ỏi,
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.
Vi-n 8 Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Vì sao họ bố thí,
Rộng lớn nhiều như vậy,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí?
Sao ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy?
Vi-n 9 Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ này với vị Thiên ấy:
Có những người bố thí,
Một cách bất bình thường,
Sau khi chém và giết,
Mới làm vơi nỗi sầu.
Sự bố thí như vậy,
Ðầy nước mắt đánh đập,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí.
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
Ekamantaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Maccherā ca pamādā ca,
evaṁ dānaṁ na dīyati;
Puññaṁ ākaṅkhamānena,
deyyaṁ hoti vijānatā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Yasseva bhīto na dadāti maccharī,
Tadevādadato bhayaṁ;
Jighacchā ca pipāsā ca,
Yassa bhāyati maccharī;
Tameva bālaṁ phusati,
Asmiṁ loke paramhi ca.
Tasmā vineyya maccheraṁ,
dajjā dānaṁ malābhibhū;
Puññāni paralokasmiṁ,
patiṭṭhā honti pāṇinan”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Te matesu na mīyanti,
panthānaṁva sahabbajaṁ;
Appasmiṁ ye pavecchanti,
esa dhammo sanantano.
Appasmeke pavecchanti,
bahuneke na dicchare;
Appasmā dakkhiṇā dinnā,
sahassena samaṁ mitā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Duddadaṁ dadamānānaṁ,
dukkaraṁ kamma kubbataṁ;
Asanto nānukubbanti,
sataṁ dhammo duranvayo.
Tasmā satañca asataṁ,
nānā hoti ito gati;
Asanto nirayaṁ yanti,
santo saggaparāyanā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike etadavoca:
“kassa nu kho, bhagavā, subhāsitan”ti?
“Sabbāsaṁ vo subhāsitaṁ pariyāyena; api ca mamapi suṇātha—
Dhammaṁ care yopi samuñjakaṁ care,
Dārañca posaṁ dadamappakasmiṁ;
Sataṁ sahassānaṁ sahassayāginaṁ,
Kalampi nāgghanti tathāvidhassa te”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Kenesa yañño vipulo mahaggato,
Samena dinnassa na agghameti;
Kathaṁ sataṁ sahassānaṁ sahassayāginaṁ,
Kalampi nāgghanti tathāvidhassa te”ti.
“Dadanti heke visame niviṭṭhā,
Chetvā vadhitvā atha socayitvā;
Sā dakkhiṇā assumukhā sadaṇḍā,
Samena dinnassa na agghameti.
Evaṁ sataṁ sahassānaṁ sahassayāginaṁ,
Kalampi nāgghanti tathāvidhassa te”ti.