Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Màlukyaputta đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Màlukyaputta bạch Thế Tôn:
—Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 4 —Ở đây, này Màlukyaputta, nay Ta nói gì với các Tỷ-kheo trẻ tuổi, khi Ông là một Tỷ-kheo già yếu, niên cao, đại lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc đời, lại yêu cầu Ta giáo giới một cách vắn tắt?
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, dầu cho con già yếu, niên cao, đại lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc đời, mong Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Mong Thiện Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Chắc chắn con sẽ hiểu ý nghĩa lời Thế Tôn giảng. Chắc chắn con sẽ trở thành người thừa tự pháp của Thế Tôn.
Vi-n 6 —Ông nghĩ thế nào, này Màlukyaputta? Các sắc do mắt nhận thức, Ông không thấy, trước đây Ông không thấy, nay Ông không thấy, và Ông không muốn thấy; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 7 —Các tiếng do tai nhận thức, Ông không nghe, trước đây Ông không nghe, nay Ông không nghe, và Ông không muốn nghe; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái hay không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 8 —Các hương do mũi nhận thức, Ông không ngửi, trước đây Ông không ngửi, nay Ông không ngửi, và Ông không muốn ngửi; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 9 —Các vị do lưỡi nhận thức, Ông không nếm, trước đây Ông không nếm, nay Ông không nếm, và Ông không muốn nếm; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Các xúc do thân nhận thức, Ông không cảm thọ, trước đây Ông không cảm thọ, nay Ông không cảm thọ, và Ông không muốn cảm thọ; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 11 —Các pháp do ý thức nhận thức, Ông không nhận thức, trước đây Ông không nhận thức, và Ông không muốn nhận thức;ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 12 —Và ở đây, này Màlukyaputta, đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ chỉ thấy được với những vật thấy được, sẽ chỉ nghe được với những vật nghe được, sẽ chỉ cảm nhận được đối với những vật cảm nhận được, sẽ chỉ nhận biết được đối với những vật có thể nhận biết được.
Vi-n 13 Vì rằng, này Màlukyaputta, đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ chỉ thấy được với những vật thấy được, chỉ nghe được với những vật nghe được, chỉ cảm nhận được đối với những vật cảm nhận được, chỉ nhận biết được đối với những vật nhận biết được. Cho nên, này Màlukyaputta, Ông không có vì cái ấy. Do vì, này Màlukyaputta, Ông không có vì cái ấy, nên Ông không có: “Ở nơi đây”. Do vì, này Màlukyaputta, Ông không có: “Ở nơi đây”, do vậy, này Màlukyaputta, Ông sẽ không có đời này, đời sau, và giữa hai đời ấy. Ðây là sự chấm dứt khổ đau.
Vi-n 14 —Bạch Thế Tôn, lời giảng vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như sau:
Vi-n 1~1 Thấy sắc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến sắc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ sắc sinh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết—bàn.
Vi-n 2~2 Nghe tiếng, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến tiếng an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ tiếng sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðựơc gọi xa Niết-bàn.
Vi-n 3~3 Ngửi hương, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến tiếng an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ tiếng sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.
Vi-n 4~4 Nếm vị, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến vị an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ vị sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.
Vi-n 5~5 Cảm xúc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến xúc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ xúc sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.
Vi-n 6~6 Biết pháp, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến pháp an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ pháp sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn
Vi-n 7~7 Vị ấy không tham sắc,
Thấy sắc, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến sắc an trú.
Theo sắc, vị ấy thấy,
Tùy sắc, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn
Vi-n 8~8 Vị ấy không tham tiếng,
Nghe tiếng, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến tiếng an trú.
Theo tiếng, vị ấy nghe,
Tùy tiếng, thọ cảm giác.
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.
Vi-n 9~9 Vị ấy không tham hương,
Ngửi hương, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến hương an trú.
Theo hương, vị ấy ngửi,
Tùy hương, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn.
Vi-n 10~10 Vị ấy không tham vị,
Nếm vị, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến vị an trú.
Theo vị, vị ấy nếm.
Tùy vị, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn.
Vi-n 11~11 Vị ấy không tham xúc,
Cảm xúc, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến xúc an trú,
Theo xúc, vị ấy cảm,
Tùy xúc, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.
Vi-n 12~12 Vị ấy không tham pháp,
Biết pháp, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến pháp an trú.
Theo pháp, vị ấy cảm,
Tùy pháp, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.
Bạch Thế Tôn, lời Thế Tôn nói vắn tắt này, con hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Vi-n 15 —Lành thay, lành thay, này Màlukyaputta! Lành thay, này Màlukyaputta, lời nói vắn tắt của Ta, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi:
Vi-n 1~13 Thấy sắc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến sắc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ sắc sanh.
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.
Vi-n 2~14 - 11) …
Vi-n 12~15 Vị ấy không tham pháp,
Biết pháp, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến pháp an trú.
Theo pháp, vị ấy cảm,
Tùy pháp, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.
Lời nói vắn tắt này của Ta, này Màlukyaputta, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Vi-n 16 Rồi Tôn giả Màlukyaputta, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
Vi-n 17 Rồi Tôn giả Màlukyaputta sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, chứng được mục đích mà các thiện gia nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 18 Và Tôn giả Màlukyaputta trở thành một vị A-la-hán nữa.
Atha kho āyasmā mālukyaputto yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mālukyaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Ettha dāni, mālukyaputta, kiṁ dahare bhikkhū vakkhāma.
Yatra hi nāma tvaṁ, bhikkhu, jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto saṅkhittena ovādaṁ yācasī”ti.
“Kiñcāpāhaṁ, bhante, jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto.
Desetu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ, desetu sugato saṅkhittena dhammaṁ, appeva nāmāhaṁ bhagavato bhāsitassa atthaṁ ājāneyyaṁ. Appeva nāmāhaṁ bhagavato bhāsitassa dāyādo assan”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mālukyaputta,
ye te cakkhuviññeyyā rūpā adiṭṭhā adiṭṭhapubbā, na ca passasi, na ca te hoti passeyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ye te sotaviññeyyā saddā assutā assutapubbā, na ca suṇāsi, na ca te hoti suṇeyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ye te ghānaviññeyyā gandhā aghāyitā aghāyitapubbā, na ca ghāyasi, na ca te hoti ghāyeyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ye te jivhāviññeyyā rasā asāyitā asāyitapubbā, na ca sāyasi, na ca te hoti sāyeyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ye te kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā asamphuṭṭhā asamphuṭṭhapubbā, na ca phusasi, na ca te hoti phuseyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ye te manoviññeyyā dhammā aviññātā aviññātapubbā, na ca vijānāsi, na ca te hoti vijāneyyanti? Atthi te tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ettha ca te, mālukyaputta, diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu diṭṭhe diṭṭhamattaṁ bhavissati, sute sutamattaṁ bhavissati, mute mutamattaṁ bhavissati, viññāte viññātamattaṁ bhavissati.
Yato kho te, mālukyaputta, diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu diṭṭhe diṭṭhamattaṁ bhavissati, sute sutamattaṁ bhavissati, mute mutamattaṁ bhavissati, viññāte viññātamattaṁ bhavissati;
tato tvaṁ, mālukyaputta, na tena.
Yato tvaṁ, mālukyaputta, na tena;
tato tvaṁ, mālukyaputta, na tattha.
Yato tvaṁ, mālukyaputta, na tattha;
tato tvaṁ, mālukyaputta, nevidha, na huraṁ, na ubhayamantarena.
Esevanto dukkhassā”ti.
“Imassa khvāhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi:
‘Rūpaṁ disvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā rūpasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evaṁ ācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Saddaṁ sutvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā saddasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evaṁ ācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Gandhaṁ ghatvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā gandhasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evaṁ ācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Rasaṁ bhotvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā rasasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evaṁ ācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Phassaṁ phussa sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā phassasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evaṁ ācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Dhammaṁ ñatvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā dhammasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evaṁ ācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
Na so rajjati rūpesu,
rūpaṁ disvā paṭissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa passato rūpaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati saddesu,
saddaṁ sutvā paṭissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa suṇato saddaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati gandhesu,
gandhaṁ ghatvā paṭissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa ghāyato gandhaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati rasesu,
rasaṁ bhotvā paṭissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa sāyato rasaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati phassesu,
phassaṁ phussa paṭissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa phusato phassaṁ,
sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
santike nibbāna vuccati.
Na so rajjati dhammesu,
dhammaṁ ñatvā paṭissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa jānato dhammaṁ,
Sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
Evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
Santike nibbāna vuccatī’ti.
Imassa khvāhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“Sādhu sādhu, mālukyaputta.
Sādhu kho tvaṁ, mālukyaputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāsi:
‘Rūpaṁ disvā sati muṭṭhā,
Piyaṁ nimittaṁ manasi karoto;
Sārattacitto vedeti,
Tañca ajjhosa tiṭṭhati.
Tassa vaḍḍhanti vedanā,
anekā rūpasambhavā;
Abhijjhā ca vihesā ca,
cittamassūpahaññati;
Evaṁ ācinato dukkhaṁ,
ārā nibbāna vuccati.
…pe…
Na so rajjati dhammesu,
dhammaṁ ñatvā paṭissato;
Virattacitto vedeti,
tañca nājjhosa tiṭṭhati.
Yathāssa vijānato dhammaṁ,
Sevato cāpi vedanaṁ;
Khīyati nopacīyati,
Evaṁ so caratī sato;
Evaṁ apacinato dukkhaṁ,
Santike nibbāna vuccatī’ti.
Imassa kho, mālukyaputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Atha kho āyasmā mālukyaputto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho āyasmā mālukyaputto eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro ca panāyasmā mālukyaputto arahataṁ ahosīti.
Dutiyaṁ.
SC 1Then the Venerable Maluṅkyaputta approached the Blessed One … and said to him: “Venerable sir, it would be good if the Blessed One would teach me the Dhamma in brief, so that, having heard the Dhamma from the Blessed One, I might dwell alone, withdrawn, diligent, ardent, and resolute.”
SC 2“Here now, Maluṅkyaputta, what should I say to the young bhikkhus when a bhikkhu like you—old, aged, burdened with years, advanced in life, come to the last stage—asks me for an exhortation in brief?”
SC 3“Although, venerable sir, I am old, aged, burdened with years, advanced in life, come to the last stage, let the Blessed One teach me the Dhamma in brief, let the Fortunate One teach me the Dhamma in brief. Perhaps I may understand the meaning of the Blessed One’s statement, perhaps I may become an heir to the Blessed One’s statement.”
SC 4“What do you think, Maluṅkyaputta, do you have any desire, lust, or affection for those forms cognizable by the eye that you have not seen and never saw before, that you do not see and would not think might be seen?”
“No, venerable sir.”
SC 5“Do you have any desire, lust, or affection for those sounds cognizable by the ear … for those odours cognizable by the nose … for those tastes cognizable by the tongue … for those tactile objects cognizable by the body … sn.iv.73 for those mental phenomena cognizable by the mind that you have not cognized and never cognized before, that you do not cognize and would not think might be cognized?”
“No, venerable sir.”
SC 6“Here, Maluṅkyaputta, regarding things seen, heard, sensed, and cognized by you: in the seen there will be merely the seen; in the heard there will be merely the heard; in the sensed there will be merely the sensed; in the cognized there will be merely the cognized.
SC 7“When, Maluṅkyaputta, regarding things seen, heard, sensed, and cognized by you, in the seen there will be merely the seen, in the heard there will be merely the heard, in the sensed there will be merely the sensed, in the cognized there will be merely the cognized, then, Maluṅkyaputta, you will not be ‘by that.’ When, Maluṅkyaputta, you are not ‘by that,’ then you will not be ‘therein. ’ When, Maluṅkyaputta, you are not ‘therein,’ then you will be neither here nor beyond nor in between the two. This itself is the end of suffering.”
SC 8“I understand in detail, venerable sir, the meaning of what was stated by the Blessed One in brief:
SC 9“Having seen a form with mindfulness muddled,
Attending to the pleasing sign,
One experiences it with infatuated mind
And remains tightly holding to it.
SC 10“Many feelings flourish within,
Originating from the visible form,
Covetousness and annoyance as well
By which one’s mind becomes disturbed.
For one who accumulates suffering thus
Nibbāna is said to be far away.
SC 11“Having heard a sound with mindfulness muddled … sn.iv.74
“Having smelt an odour with mindfulness muddled …
“Having enjoyed a taste with mindfulness muddled …
“Having felt a contact with mindfulness muddled …
SC 12“Having known an object with mindfulness muddled …
For one who accumulates suffering thus
Nibbāna is said to be far away.
SC 13“When, firmly mindful, one sees a form,
One is not inflamed by lust for forms;
One experiences it with dispassionate mind
And does not remain holding it tightly.
SC 14“One fares mindfully in such a way
That even as one sees the form,
And while one undergoes a feeling,
Suffering is exhausted, not built up.
For one dismantling suffering thus,
Nibbāna is said to be close by.
SC 15“When, firmly mindful, one hears a sound,
One is not inflamed by lust for sounds; … sn.iv.75
SC 16“When, firmly mindful, one smells an odour,
One is not inflamed by lust for odours; …
SC 17“When, firmly mindful, one enjoys a taste,
One is not inflamed by lust for tastes; …
SC 18“When, firmly mindful, one feels a contact,
One is not inflamed by lust for contacts; …
SC 19“When, firmly mindful, one knows an object,
One is not inflamed by lust for objects; …
For one diminishing suffering thus
Nibbāna is said to be close by.
SC 20“It is in such a way, venerable sir, that I understand in detail the meaning of what was stated by the Blessed One in brief.”
SC 21“Good, good, Maluṅkyaputta! It is good that you understand in detail the meaning of what was stated by me in brief.
SC 22The Buddha here repeats the above verses in full. sn.iv.76
SC 23“It is in such a way, Maluṅkyaputta, that the meaning of what was stated by me in brief should be understood in detail.”
SC 24Then the Venerable Maluṅkyaputta, having delighted and rejoiced in the Blessed One’s words, rose from his seat, and, after paying homage to the Blessed One, keeping him on his right, he departed.
SC 25Then, dwelling alone, withdrawn, diligent, ardent, and resolute, the Venerable Maluṅkyaputta, by realizing it for himself with direct knowledge, in this very life entered and dwelt in that unsurpassed goal of the holy life for the sake of which clansmen rightly go forth from the household life into homelessness. He directly knew: “Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.” And the Venerable Maluṅkyaputta became one of the arahants.