Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Mahà Kaccāna (Ma-ha Ca-chiên-diên) sống giữa các dân chúng Avanti, tại Kulaghara bên bờ một vực núi.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccāna; sau khi đi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kaccāna rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn Giả Mahà Kaccāna:
- Thưa Tôn Giả, Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Māgandiya” như sau:
“Bậc Thánh bỏ gia đình,
Du hành không trú xứ,
Ðối với dân trong làng,
Không tác thành hệ lụy.
Tuyệt không các dục vọng,
Không ước vọng hão huyền,
Chấm dứt mọi tranh luận,
Bất cứ với một ai”.
Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Vi-n 4 —Sắc giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham sắc giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Thọ giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thọ giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Tưởng giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham tưởng giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Hành giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham hành giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Thức giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thức giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có gia đình.
Vi-n 8 Và này Gia chủ, thế nào là du hành không gia đình?
Vi-n 9 Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.
Vi-n 10 Ðối với thọ giới, này Gia chủ …
Vi-n 11 Ðối với tưởng giới, này Gia chủ …
Vi-n 12 Ðối với hành giới, này Gia chủ …
Vi-n 13 Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.
Vi-n 14 Như vậy, này Gia chủ, là du hành không gia đình.
Vi-n 15 Như thế nào, này Gia chủ, là du hành có trú xứ? Bị trói buộc bởi an trú chấp trước (niketa-visàra) vào sắc tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ … vào thanh tướng … vào hương tướng … vào vị tướng … vào xúc tướng. Bị trói buộc bởi an trú chấp trước vào pháp tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có trú xứ.
Vi-n 16 Như thế nào là du hành không trú xứ? Sự trói buộc bởi an trú chấp trước vào sắc tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không trú xứ. Sự trói buộc bởi an trú chấp trước vào thanh tướng … vào hương tướng … vào vị tướng … vào xúc tướng … vào pháp tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không trú xứ.
Vi-n 17 Như vậy, này Gia chủ, là du hành không trú xứ.
Vi-n 18 Như thế nào, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, có người sống thân mật với gia chủ, cùng vui, cùng buồn. Giữa những người sung sướng, vị ấy sung sướng. Giữa những người buồn khổ, vị ấy buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, tự liên hệ mình vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy trong làng.
Vi-n 19 Và như thế nào, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không sống quá thân mật với gia chủ, không cùng vui, không cùng buồn, không vui sướng giữa những người sung sướng, không buồn khổ giữa những người buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, không tự mình liên hệ vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng.
Vi-n 20 Như thế nào, này Gia chủ, là không tuyệt không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người không ly tham đối với các dục vọng, không ly dục, không ly ái, không ly khát, không ly nhiệt não, không ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là không tuyệt không đối với các dục.
Vi-n 21 Như thế nào, này Gia chủ, là tuyệt không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người ly tham đối với các dục, ly dục, ly ái, ly khát, ly nhiệt não, ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là tuyệt không các dục.
Vi-n 22 Như thế nào, này Gia chủ, là hy vọng hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người suy nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!” Như vậy, này Gia chủ, là hư vọng hão huyền.
Vi-n 23 Như thế nào, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người không có suy nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!” Như vậy, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền.
Vi-n 24 Như thế nào, này Gia chủ, là tranh luận với người? Ở đây, này Gia chủ, có người nói như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này. Ta biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông đã phạm vào tà kiến. Ta mới thật đúng chánh kiến. Những điều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Những điều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói của ta mới tương ưng. Lời nói của Ông không tương ưng. Chủ kiến của Ông đã bị bài bác. Câu nói của Ông đã bị thách đố. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Ông đã bị thuyết bại. Nếu có thể được, hãy gắng thoát ra khỏi lối bí”. Như vậy, này Gia chủ, là tranh luận với người.
Vi-n 25 Như thế nào, này Gia chủ, là không tranh luận với người? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không nói lời nói như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này …. Hãy thoát ra khỏi lối bí”. Như vậy, này Gia chủ, là không tranh luận với người.
Vi-n 26 Như vậy, này Gia chủ, Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Māgandiya” như sau:
“Bậc Thánh bỏ gia đình,
Du hành không trú xứ,
Ðối với dân trong làng,
Không tác thành hệ lụy.
Tuyệt không các dục vọng.
Không ước vọng hão huyền,
Chấm dứt mọi tranh luận,
Bất cứ với một ai”.
Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, này Gia chủ, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno avantīsu viharati kuraraghare papāte pabbate.
Atha kho hāliddikāni gahapati yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho hāliddikāni gahapati āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“vuttamidaṁ, bhante, bhagavatā aṭṭhakavaggiye māgaṇḍiyapañhe:
‘Okaṁ pahāya aniketasārī,
Gāme akubbaṁ muni santhavāni;
Kāmehi ritto apurakkharāno,
Kathaṁ na viggayha janena kayirā’ti.
Imassa nu kho, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
“Rūpadhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Rūpadhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati.
Vedanādhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Vedanādhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati.
Saññādhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Saññādhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati.
Saṅkhāradhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Saṅkhāradhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati.
Evaṁ kho, gahapati, okasārī hoti.
Kathañca, gahapati, anokasārī hoti?
Rūpadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Tasmā tathāgato ‘anokasārī’ti vuccati.
Vedanādhātuyā kho, gahapati …
saññādhātuyā kho, gahapati …
saṅkhāradhātuyā kho, gahapati …
viññāṇadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Tasmā tathāgato ‘anokasārī’ti vuccati.
Evaṁ kho, gahapati, anokasārī hoti.
Kathañca, gahapati, niketasārī hoti?
Rūpanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, ‘niketasārī’ti vuccati.
Saddanimitta …pe…
gandhanimitta …
rasanimitta …
phoṭṭhabbanimitta …
dhammanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, ‘niketasārī’ti vuccati.
Evaṁ kho, gahapati, niketasārī hoti.
Kathañca, gahapati, aniketasārī hoti?
Rūpanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Tasmā tathāgato ‘aniketasārī’ti vuccati.
Saddanimitta …
gandhanimitta …
rasanimitta …
phoṭṭhabbanimitta …
dhammanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Tasmā tathāgato ‘aniketasārī’ti vuccati.
Evaṁ kho, gahapati, aniketasārī hoti.
Kathañca, gahapati, gāme santhavajāto hoti?
Idha, gahapati, ekacco gihīhi saṁsaṭṭho viharati sahanandī sahasokī, sukhitesu sukhito, dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu attanā tesu yogaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, gahapati, gāme santhavajāto hoti.
Kathañca, gahapati, gāme na santhavajāto hoti?
Idha, gahapati, bhikkhu gihīhi asaṁsaṭṭho viharati na sahanandī na sahasokī na sukhitesu sukhito na dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu na attanā tesu yogaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, gahapati, gāme na santhavajāto hoti.
Kathañca, gahapati, kāmehi aritto hoti?
Idha, gahapati, ekacco kāmesu avigatarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho.
Evaṁ kho, gahapati, kāmehi aritto hoti.
Kathañca, gahapati, kāmehi ritto hoti?
Idha, gahapati, ekacco kāmesu vigatarāgo hoti vigatacchando vigatapemo vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho.
Evaṁ kho, gahapati, kāmehi ritto hoti.
Kathañca, gahapati, purakkharāno hoti?
Idha, gahapati, ekaccassa evaṁ hoti:
‘evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁvedano siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsañño siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsaṅkhāro siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti.
Evaṁ kho, gahapati, purakkharāno hoti.
Kathañca, gahapati, apurakkharāno hoti?
Idha, gahapati, ekaccassa na evaṁ hoti:
‘evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁvedano siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsañño siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsaṅkhāro siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti.
Evaṁ kho, gahapati, apurakkharāno hoti.
Kathañca, gahapati, kathaṁ viggayha janena kattā hoti?
Idha, gahapati, ekacco evarūpiṁ kathaṁ kattā hoti:
‘na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi; ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi. Kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi? Micchāpaṭipanno tvamasi; ahamasmi sammāpaṭipanno. Pure vacanīyaṁ pacchā avaca; pacchā vacanīyaṁ pure avaca. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ. Āropito te vādo; cara vādappamokkhāya. Niggahitosi; nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti.
Evaṁ kho, gahapati, kathaṁ viggayha janena kattā hoti.
Kathañca, gahapati, kathaṁ na viggayha janena kattā hoti?
Idha, gahapati, bhikkhu na evarūpiṁ kathaṁ kattā hoti:
‘na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi …pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti.
Evaṁ kho, gahapati, kathaṁ na viggayha janena kattā hoti.
Iti kho, gahapati, yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā aṭṭhakavaggiye māgaṇḍiyapañhe:
‘Okaṁ pahāya aniketasārī,
Gāme akubbaṁ munisanthavāni;
Kāmehi ritto apurakkharāno,
Kathaṁ na viggayha janena kayirā’ti.
Imassa kho, gahapati, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Venerable Mahakaccana was dwelling among the people of Avanti on Mount Papata at Kuraraghara. Then the householder Haliddakani approached the Venerable Mahakaccana, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:
SC 2“Venerable sir, this was said by the Blessed One in ‘The Questions of Magandiya’ of the Aṭṭhakavagga:
SC 3‘Having left home to roam without abode,
In the village the sage is intimate with none;
Rid of sensual pleasures, without expectations,
He would not engage people in dispute.’
SC 4How, venerable sir, should the meaning of this, stated by the Blessed One in brief, be understood in detail?”
SC 5“The form element, householder, is the home of consciousness; one whose consciousness is shackled by lust for the form element is called one who roams about in a home. The feeling element is the home of consciousness … sn.iii.10 The perception element is the home of consciousness … The volitional formations element is the home of consciousness; one whose consciousness is shackled by lust for the volitional formations element is called one who roams about in a home. It is in such a way that one roams about in a home.
SC 6“And how, householder, does one roam about homeless? The desire, lust, delight, and craving, the engagement and clinging, the mental standpoints, adherences, and underlying tendencies regarding the form element: these have been abandoned by the Tathagata, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so that they are no more subject to future arising. Therefore the Tathagata is called one who roams about homeless. The desire, lust, delight, and craving, the engagement and clinging, the mental standpoints, adherences, and underlying tendencies regarding the feeling element … the perception element … the volitional formations element … the consciousness element: these have been abandoned by the Tathagata, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so that they are no more subject to future arising. Therefore the Tathagata is called one who roams about homeless. It is in such a way that one roams about homeless.
SC 7“And how, householder, does one roam about in an abode? By diffusion and confinement in the abode consisting in the sign of forms, one is called one who roams about in an abode. By diffusion and confinement in the abode consisting in the sign of sounds … the sign of odours … the sign of tastes … the sign of tactile objects … the sign of mental phenomena, one is called one who roams about in an abode.
SC 8“And how, householder, does one roam about without abode? Diffusion and confinement in the abode consisting in the sign of forms: these have been abandoned by the Tathagata, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so that they are no more subject to future arising. Therefore the Tathagata is called one who roams about without abode. Diffusion and confinement in the abode consisting in the sign of sounds … the sign of odours … the sign of tastes … the sign of tactile objects … the sign of mental phenomena: these have been abandoned by the Tathagata, cut off at the root, made like a palm stump, sn.iii.11 obliterated so that they are no more subject to future arising. Therefore the Tathagata is called one who roams about without abode. It is in such a way that one roams about without abode.
SC 9“And how, householder, is one intimate in the village? Here, householder, someone lives in association with laypeople: he rejoices with them and sorrows with them, he is happy when they are happy and sad when they are sad, and he involves himself in their affairs and duties. It is in such a way that one is intimate in the village.
SC 10“And how, householder, is one intimate with none in the village? Here, householder, a bhikkhu does not live in association with laypeople. He does not rejoice with them or sorrow with them, he is not happy when they are happy and sad when they are sad, and he does not involve himself in their affairs and duties. It is in such a way that one is intimate with none in the village.
SC 11“And how, householder, is one not rid of sensual pleasures? Here, householder, someone is not devoid of lust, desire, affection, thirst, passion, and craving in regard to sensual pleasures. It is in such a way that one is not rid of sensual pleasures.
SC 12“And how, householder, is one rid of sensual pleasures? Here, householder, someone is devoid of lust, desire, affection, thirst, passion, and craving in regard to sensual pleasures. It is in such a way that one is rid of sensual pleasures.
SC 13“And how, householder, does one entertain expectations? Here, householder, someone thinks: ‘May I have such form in the future! May I have such feeling in the future! May I have such perception in the future! May I have such volitional formations in the future! May I have such consciousness in the future!’ It is in such a way that one entertains expectations.
SC 14“And how, householder, is one without expectations? Here, householder, someone does not think: ‘May I have such form in the future!… sn.iii.12 May I have such consciousness in the future!’ It is in such a way that one is without expectations.
SC 15“And how, householder, does one engage people in dispute? Here, householder, someone engages in such talk as this: ‘You don’t understand this Dhamma and Discipline. I understand this Dhamma and Discipline. What, you understand this Dhamma and Discipline! You’re practising wrongly, I’m practising rightly. What should have been said before you said after; what should have been said after you said before. I’m consistent, you’re inconsistent. What you took so long to think out has been overturned. Your thesis has been refuted. Go off to rescue your thesis, for you’re defeated, or disentangle yourself if you can.’ It is in such a way that one engages people in dispute.
SC 16“And how, householder, does one not engage people in dispute? Here, householder, someone does not engage in such talk as this: ‘You don’t understand this Dhamma and Discipline…. ‘ It is in such a way that one does not engage people in dispute.
SC 17“Thus, householder, when it was said by the Blessed One in ‘The Questions of Magandiya’ of the Aṭṭhakavagga:
SC 18‘Having left home to roam without abode,
In the village the sage is intimate with none;
Rid of sensual pleasures, without expectations,
He would not engage people in dispute’—
It is in such a way that the meaning of this, stated in brief by the Blessed One, should be understood in detail.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Mahà Kaccāna (Ma-ha Ca-chiên-diên) sống giữa các dân chúng Avanti, tại Kulaghara bên bờ một vực núi.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccāna; sau khi đi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kaccāna rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn Giả Mahà Kaccāna:
- Thưa Tôn Giả, Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Māgandiya” như sau:
“Bậc Thánh bỏ gia đình,
Du hành không trú xứ,
Ðối với dân trong làng,
Không tác thành hệ lụy.
Tuyệt không các dục vọng,
Không ước vọng hão huyền,
Chấm dứt mọi tranh luận,
Bất cứ với một ai”.
Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Vi-n 4 —Sắc giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham sắc giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Thọ giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thọ giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Tưởng giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham tưởng giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Hành giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham hành giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Thức giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thức giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có gia đình.
Vi-n 8 Và này Gia chủ, thế nào là du hành không gia đình?
Vi-n 9 Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.
Vi-n 10 Ðối với thọ giới, này Gia chủ …
Vi-n 11 Ðối với tưởng giới, này Gia chủ …
Vi-n 12 Ðối với hành giới, này Gia chủ …
Vi-n 13 Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.
Vi-n 14 Như vậy, này Gia chủ, là du hành không gia đình.
Vi-n 15 Như thế nào, này Gia chủ, là du hành có trú xứ? Bị trói buộc bởi an trú chấp trước (niketa-visàra) vào sắc tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ … vào thanh tướng … vào hương tướng … vào vị tướng … vào xúc tướng. Bị trói buộc bởi an trú chấp trước vào pháp tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có trú xứ.
Vi-n 16 Như thế nào là du hành không trú xứ? Sự trói buộc bởi an trú chấp trước vào sắc tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không trú xứ. Sự trói buộc bởi an trú chấp trước vào thanh tướng … vào hương tướng … vào vị tướng … vào xúc tướng … vào pháp tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không trú xứ.
Vi-n 17 Như vậy, này Gia chủ, là du hành không trú xứ.
Vi-n 18 Như thế nào, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, có người sống thân mật với gia chủ, cùng vui, cùng buồn. Giữa những người sung sướng, vị ấy sung sướng. Giữa những người buồn khổ, vị ấy buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, tự liên hệ mình vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy trong làng.
Vi-n 19 Và như thế nào, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không sống quá thân mật với gia chủ, không cùng vui, không cùng buồn, không vui sướng giữa những người sung sướng, không buồn khổ giữa những người buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, không tự mình liên hệ vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng.
Vi-n 20 Như thế nào, này Gia chủ, là không tuyệt không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người không ly tham đối với các dục vọng, không ly dục, không ly ái, không ly khát, không ly nhiệt não, không ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là không tuyệt không đối với các dục.
Vi-n 21 Như thế nào, này Gia chủ, là tuyệt không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người ly tham đối với các dục, ly dục, ly ái, ly khát, ly nhiệt não, ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là tuyệt không các dục.
Vi-n 22 Như thế nào, này Gia chủ, là hy vọng hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người suy nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!” Như vậy, này Gia chủ, là hư vọng hão huyền.
Vi-n 23 Như thế nào, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người không có suy nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!” Như vậy, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền.
Vi-n 24 Như thế nào, này Gia chủ, là tranh luận với người? Ở đây, này Gia chủ, có người nói như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này. Ta biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông đã phạm vào tà kiến. Ta mới thật đúng chánh kiến. Những điều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Những điều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói của ta mới tương ưng. Lời nói của Ông không tương ưng. Chủ kiến của Ông đã bị bài bác. Câu nói của Ông đã bị thách đố. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Ông đã bị thuyết bại. Nếu có thể được, hãy gắng thoát ra khỏi lối bí”. Như vậy, này Gia chủ, là tranh luận với người.
Vi-n 25 Như thế nào, này Gia chủ, là không tranh luận với người? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không nói lời nói như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này …. Hãy thoát ra khỏi lối bí”. Như vậy, này Gia chủ, là không tranh luận với người.
Vi-n 26 Như vậy, này Gia chủ, Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Māgandiya” như sau:
“Bậc Thánh bỏ gia đình,
Du hành không trú xứ,
Ðối với dân trong làng,
Không tác thành hệ lụy.
Tuyệt không các dục vọng.
Không ước vọng hão huyền,
Chấm dứt mọi tranh luận,
Bất cứ với một ai”.
Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, này Gia chủ, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno avantīsu viharati kuraraghare papāte pabbate.
Atha kho hāliddikāni gahapati yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho hāliddikāni gahapati āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“vuttamidaṁ, bhante, bhagavatā aṭṭhakavaggiye māgaṇḍiyapañhe:
‘Okaṁ pahāya aniketasārī,
Gāme akubbaṁ muni santhavāni;
Kāmehi ritto apurakkharāno,
Kathaṁ na viggayha janena kayirā’ti.
Imassa nu kho, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
“Rūpadhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Rūpadhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati.
Vedanādhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Vedanādhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati.
Saññādhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Saññādhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati.
Saṅkhāradhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko.
Saṅkhāradhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati.
Evaṁ kho, gahapati, okasārī hoti.
Kathañca, gahapati, anokasārī hoti?
Rūpadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Tasmā tathāgato ‘anokasārī’ti vuccati.
Vedanādhātuyā kho, gahapati …
saññādhātuyā kho, gahapati …
saṅkhāradhātuyā kho, gahapati …
viññāṇadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Tasmā tathāgato ‘anokasārī’ti vuccati.
Evaṁ kho, gahapati, anokasārī hoti.
Kathañca, gahapati, niketasārī hoti?
Rūpanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, ‘niketasārī’ti vuccati.
Saddanimitta …pe…
gandhanimitta …
rasanimitta …
phoṭṭhabbanimitta …
dhammanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, ‘niketasārī’ti vuccati.
Evaṁ kho, gahapati, niketasārī hoti.
Kathañca, gahapati, aniketasārī hoti?
Rūpanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Tasmā tathāgato ‘aniketasārī’ti vuccati.
Saddanimitta …
gandhanimitta …
rasanimitta …
phoṭṭhabbanimitta …
dhammanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Tasmā tathāgato ‘aniketasārī’ti vuccati.
Evaṁ kho, gahapati, aniketasārī hoti.
Kathañca, gahapati, gāme santhavajāto hoti?
Idha, gahapati, ekacco gihīhi saṁsaṭṭho viharati sahanandī sahasokī, sukhitesu sukhito, dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu attanā tesu yogaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, gahapati, gāme santhavajāto hoti.
Kathañca, gahapati, gāme na santhavajāto hoti?
Idha, gahapati, bhikkhu gihīhi asaṁsaṭṭho viharati na sahanandī na sahasokī na sukhitesu sukhito na dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu na attanā tesu yogaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, gahapati, gāme na santhavajāto hoti.
Kathañca, gahapati, kāmehi aritto hoti?
Idha, gahapati, ekacco kāmesu avigatarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho.
Evaṁ kho, gahapati, kāmehi aritto hoti.
Kathañca, gahapati, kāmehi ritto hoti?
Idha, gahapati, ekacco kāmesu vigatarāgo hoti vigatacchando vigatapemo vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho.
Evaṁ kho, gahapati, kāmehi ritto hoti.
Kathañca, gahapati, purakkharāno hoti?
Idha, gahapati, ekaccassa evaṁ hoti:
‘evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁvedano siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsañño siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsaṅkhāro siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti.
Evaṁ kho, gahapati, purakkharāno hoti.
Kathañca, gahapati, apurakkharāno hoti?
Idha, gahapati, ekaccassa na evaṁ hoti:
‘evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁvedano siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsañño siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsaṅkhāro siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti.
Evaṁ kho, gahapati, apurakkharāno hoti.
Kathañca, gahapati, kathaṁ viggayha janena kattā hoti?
Idha, gahapati, ekacco evarūpiṁ kathaṁ kattā hoti:
‘na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi; ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi. Kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi? Micchāpaṭipanno tvamasi; ahamasmi sammāpaṭipanno. Pure vacanīyaṁ pacchā avaca; pacchā vacanīyaṁ pure avaca. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ. Āropito te vādo; cara vādappamokkhāya. Niggahitosi; nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti.
Evaṁ kho, gahapati, kathaṁ viggayha janena kattā hoti.
Kathañca, gahapati, kathaṁ na viggayha janena kattā hoti?
Idha, gahapati, bhikkhu na evarūpiṁ kathaṁ kattā hoti:
‘na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi …pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti.
Evaṁ kho, gahapati, kathaṁ na viggayha janena kattā hoti.
Iti kho, gahapati, yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā aṭṭhakavaggiye māgaṇḍiyapañhe:
‘Okaṁ pahāya aniketasārī,
Gāme akubbaṁ munisanthavāni;
Kāmehi ritto apurakkharāno,
Kathaṁ na viggayha janena kayirā’ti.
Imassa kho, gahapati, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Tatiyaṁ.